So sánh Luật cạnh tranh 2018 và Luật cạnh tranh 2004 về M&A 

Chính việc tách tập trung kinh tế ra khỏi nhóm hành vi hạn chế cạnh tranh sẽ giúp đánh giá hành vi này một cách toàn diện và đầy đủ hơn, theo đó, tập trung kinh tế không phải là đối tượng bị hạn chế thực hiện trong đời sống kinh tế.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6586

Số điện thoại Luật sư: 058.7999997

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Tập trung kinh tế không còn thuộc nhóm hành vi hạn chế cạnh tranh: 

Một trong các thay đổi lớn về mặt chính sách điều chỉnh về kiểm soát hoạt động tập trung kinh tế của Luật cạnh tranh 2018 so với Luật cạnh tranh 2004 đó việc Luật cạnh tranh 2018 đã bỏ hoạt động tập trung kinh tế ra khỏi nhóm các hành vi hạn chế cạnh tranh. Theo quy phạm định nghĩa tại Khoản 2 Điều 3 Luật cạnh tranh 2018 thạn chế cạn tranh chỉ bao gồm: (1) Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, (2) Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, (3) Hành vi lạm dụng vị trí độc quyền

Chúng ta thấy rng hu quả xu của hoạt động tập trung kinh tế thể dẫn tới hạn chế cạnh tranh thông qua hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường hoặc hành vi lạm dụng vị trí độc quyền, đó do căn bản để Luật Cạnh tranh 2004 đưa hoạt động tập trung kinh tế vào điều chỉnh trong nhóm nh vi hạn chế cạnh tranh. Tuy nhiên bản thân hoạt động tập trung kinh tế không tác động trực tiếp tới môi trường cạnh tranh. Bên cạnh đó, đây ng hoạt động tự nhiên trong đời sống sản xuất kinh doanh của các chủ thể liên quan. Do đó, việc pháp luật cạnh tranh sự điều chnh riêng đi với hoạt động tập trung kinh tế phù hợp

Các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh lạm dụng vị trí độc quyền những hành vi chủ định động hạn chế cạnh tranh, do đó thái độ của nnước đối với các hành vi này nghiêm cấmtrừ những trường hợp đặc biệt. Trong khi đó đối với hành vi tập trung kinh tế, bản chất của hành vi này không phải hành vi ln tiềm ẩn nguy hạn chế cạnh tranh trên thị trường. Tập trung kinh tế thể mang lại những tác động tích cực đến nền kinh tế. vậy nhà nước cần chính sách kiểm soát phù hợp đối với hành vi này nhằm mục tiêu phát huy ưu điểm hạn chế nhược điểm chkhông phải ngăn cấm tuyệt đối như nhóm hành vi hạn chế cạnh tranh

Khác với pháp luật kiểm soát hạn chế cạnh tranh, pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế không hướng tới việc xử vi phạm bằng các chế tài ngăn cấm. Pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế tính định hướng phân loại c hoạt động tập trung kinh tế. Sngăn cấm chỉ diễn ra đối với thiểu số trường hợp cần thiết. Theo đó, các quy định pháp luật cạnh tranh sẽ nhằm hạn chế tác động tiêu cực của tập trung kinh tế trên thị trường mà không phải theo hướng quy định các hành vi bị cấm. Do đó, quy định pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế cần được tách riêng

Như vậy quy định về xử hành vi hạn chế cạnh tranh chỉ bao gồm pháp luật xđối với hai dạng hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh lạm dụng vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền. Còn đối với tập trung kinh tế, pháp lut hướng tới kiểm soát nhiều hơn ngăn cấm. Việc tách tập trung kinh tế ra khỏi nhóm hành vi hạn chế cạnh tranh, sẽ giúp đánh giá hành vi này một cách toàn diện đầy đủ hơn, theo đó, tập trung kinh tế không phải đối tượng bị hạn chế thực hiện trong đời sống kinh tế

2. Tập trung kinh tế được chú trọng kiểm soát bằng công cụ hành chính, tiền kiểm: 

Quy chế tiền kiểm đã xuất hiện từ Luật cạnh tranh 2004. Theo đó, Luật Cạnh tranh 2004 xem mọi hoạt động TTKT là nh vi hạn chế cạnh tranh, tất cả hoạt động TTKT trong đó các doanh nghiệp tập trung kinh tế thị phần kết hợp từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì đại diện hợp pháp của các doanh nghiệp đó phải thông o cho quan quản cạnh tranh trước khi tiến hành tập trung kinh tế, trừ trường hợp thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế thấp hơn 30% trên thị trường liên quan hoặc trường hợp doanh nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ

Kế thừa Luật Cạnh trang 2004, Luật Cạnh tranh 2018 vẫn áp dụng phương thức tiền kiểm đối với TTKT. Cụ thể : các doanh nghiệp tham gia TTKT phải nộp hồ thông báo TTKT đển Uỷ ban Cạnh tranh Quốc gia để xem xét. Ngưỡng thông báo TTKT được quy định tại Điều 33 Luật Cạnh tranh 2018, hướng dẫn thi hành tại Điều 13 Nghị định 35/2020/CP. Trong vòng 30 ngày, UBCTQG phải thẩm định và ra thông báo: (1) Tập trung kinh tế được thực hiện; (2) Tập trung kinh tế phải thẩm định chính thức. Hết thời hạn này UBCTQG chưa ra thông báo chính thức thì TTKT được thực hiện

Trong trường hợp TTKT cần phải được thẩm định chính thức. Thẩm định chính thức dựa theo các tiêu chí được quy định tại Điều 31, Điều 32 Luật Cạnh tranh 2018, Điều 15, Điều 16 Nghị định 35/2020/CP. Theo đó, bên cạnh những tiêu chí đánh giá TTKT thể mang lại tác đng tiêu cực, cũng cần phải xem xét những tác động tích cực mà TTKT thể đem lại. Quá trình này phải được hoàn thành, đưa ra quyết định trong vòng 90 ngày về một trong các nội dung

  • TTKT được thực hiện
  • Tập trung kinh tế điều kiện: (i) Chia, tách, bán lại mt phần vốn góp, tài sản của doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế; (ii) Kiểm soát nội dung liên quan đến giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ hoặc các điều kiện giao dịch khác trong hợp đồng của doanh nghiệp hình thành sau tập trung kinh tế; (iii) Biện pháp khác nhằm khắc phục khả năng tác động hạn chế cạnh tranh trên thị trường; (iv) Biện pháp khác nhằm tăng cường tác động tích cực của tập trung kinh tế.;
  • Tập trung kinh tế thuộc trường hợp bị cấm

Quá trình đánh giá chính thức thể được gia hạn một lần, không quá 60 ngày đối với những trường hợp phức tạp. Bên cạnh đó, để đảm bảo quá trình thẩm định được thực hiện chính c, UBCTQG có thể yêu cầu các bên liên quan cung cấp thêm thông tin, tài liệu; u cầu sự tham vấn từ các quan, bộ, ngành liên quan

Bên cạnh đó, khi các doanh nghiệp tiến hành TTKT vi phạm các quy định tại Điều 44 Luật Cạnh tranh 2018 thể bị xử bằng các biện pháp xử phạt hành chính thống qua qtrình ttụng Cạnh tranh

3. Tập trung kinh tế được đánh giá bởi nhiều tiêu chí toàn diện hơn: 

Nếu như Luật Cạnh tranh 2004 chỉ đánh giá TTKT theo một tiêu chí duy nhất thị phần trên thị trường liên quan, thì Luật Cạnh tranh 2018 đã mở rộng, xem xét đánh giá TTKT trên nhiều tiêu chí hơn để cái nhìn toàn diện tổng quát hơn

Đầu tiên, việc đánh giá TTKT gây tác động hạn chế cạnh tranh vẫn là việc đầu tiên cần làm. Tuy nhiên, bên cạnh tiêu chí thị phần ca thị trường, Luật Cạnh tranh 2018 đưa ra thêm 06 tiêu chí. Cthể

  • Thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế trên thị trường liên quan;
  • Mức độ tập trung trên thị trường liên quan trước sau khi tập trung kinh tế
  • Mối quan hệ của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế trong chuỗi sản xuất, phân phối, cung ứng đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định hoặc ngành, nghề kinh doanh của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế là đầu vào của nhau hoặc bổ trợ cho nhau;
  • Lợi thế cạnh tranh do tập trung kinh tế mang lại trên thị trường liên quan
  • Khả năng doanh nghiệp sau tập trung kinh tế tăng giá hoặc tăng tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu một cách đáng kể;
  • Khả năng doanh nghiệp sau tập trung kinh tế loại bỏ hoặc ngăn cản doanh nghiệp khác gia nhập hoặc mở rộng thị trường;
  • Yếu tđặc thù trong ngành, lĩnh vực các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế.

Một điểm cần chú ý Luật Cạnh tranh 2018 chỉ đưa ra tiêu chí đánh giá, tuy nhiên đánh giá như thế nào, lấy mức nào để đánh giá thì Luật Cạnh tranh 2018 lại giao quyền lại cho Chính phủ các quan thẩm quyền. Điều này hợp bởi lẽ tuỳ vào nh hình kinh tế, chính trị hội của từng thời kỳ, tuỳ vào tình hình của từng ngành nghề kinh doanh, từng thị trường Chính phủ thể linh động, điều chỉnh c mức đánh giá sao cho phù hợp

Bên cạnh xem xét các tác động tiêu cực, cũng cần thiết phải đánh giá các tác động tích cực của TTKT để cái nhìn toàn diện, chính c hơn đối với hoạt động TTKT. Bởi lẽ những tác động tiêu cực nếu vượt qua những tác động tiêu cực một hoạt động TTKT có thể đem li thì không do để ngăn cản hoạt động TTKT đó. Cũng giống như đối với các chỉ tiêu đánh giá tác động tiêu cực, các chỉ tiêu đánh giá tác động tích cực cũng được quy định tại Điều 32 Luật Cạnh tranh 2018 không đưa ra các mốc đánh giá cụ thể. Việc quy định những mốc đánh giá này được giao lại cho Chính phủ để đảm bảo nh linh động, khách quan, tuỳ biến đối với từng thời kỳ, từng ngành nghềNhững tiêu chí đánh giá tác động tích cực cần được xem xét đến theo quy định bao gồm

  • Tác động tích cực đến việc phát triển của ngành, lĩnh vực khoa học, công nghệ theo chiến lược, quy hoạch của Nhà nước;
  • Tác động tích cực đến việc phát triển doanh nghiệp nhỏ vừa;
  • Tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo