Chế độ chính sách đối với lao động nữ theo quy định pháp luật

Pháp luật có những quy định về đảm bảo quyền của lao động nữ khi tham gia quan hệ lao động và thường tập trung vào việc làm; học nghề; bồi dưỡng và nâng cao trình độ nghề; tiền lương, an toàn, vệ sinh lao động; bảo hiểm xã hội; thời gian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi...

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6586

Số điện thoại Luật sư: 058.7999997

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Khái niệm pháp luật về quyền của lao động nữ:

1. Khái niệm lao động nữ:

Người lao đng người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương chịu squản , điều hành, giám sát của người sdụng lao động

Lao động nữ người lao động thuộc giới nữ và khi tham gia quan hệ lao động đầy đủ các quyền nghĩa vụ của người lao động, đồng thời, được pháp luật lao động dành cho những quy định áp dụng riêng

Nhà nước bảo đảm quyền làm việc của phụ nữ bình đẳng về mọi mặt với nam giới, chính sách khuyến khích người sử dụng lao động tạo điều kiện để người lao động nữ việc làm thường xuyên, áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn ngày, trọn tuần, giao việc làm tại nhà

1.2. Khái niệm quyền lợi: 

Quyền lợi hay quyền các nguyên tắc luật pháp, hội hoặc đạo đức về tự do hoặc những gì đáng được, nghĩa , quyền các quy tắc quy phạm bản về những gì được phép của mọi người hoặc người dân theo một số hệ thống pháp luật, quy ước hội hoặc thuyết đạo đức

1.3. Khái niệm quyền lợi người lao động nữ: 

Người lao động nữ thuộc nhóm người dễ bị tổn thương theo cách phân loại theo chthể của quyền, thì quyền của người lao động nữ nằm trong quyền của nhóm. Nếu như quyền nhân được hiểu các quyền thuộc về mỗi nhân, bất kể họ hay không thành viên của bất kỳ một nhóm xã hội nào và việc hưởng thụ các quyền này tùy thuộc ý chí của mỗi nhân thì ngược lại, theo nghĩa rộng của , quyền của nhóm được hiểu những quyền đặc thù, chung của một tập thể hay một nhóm hội nhất định, để được hưởng thụ các quyền này cần phải thành viên của nhóm, và đôi khi cần phải thực hiện cùng với các thành viên khác của nhóm. Người khuyết tật cũng các quyền bản về dân sự, chính trị, kinh tế, hội văn hóa

Quyền của người lao động nữ bao gồm các quyền tự do bản của con người, phẩm giá, nhu cầu, lợi ích và năng lực vốn con người với cách là thành viên của cộng động nhân loại và được chăm sóc, bảo vđặc biệt với cách nhóm người đặc thù dễ bị tổn thương bởi người lao động thuộc giới nữ khi tham gia quan hệ lao động đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của người lao động, đồng thời, được pháp luật lao động dành cho những quy định áp dụng riêng

2. Nội dung pháp luật về quyền của lao động nữ: 

Pháp luật mỗi quốc gia đều những quy định về đảm bảo quyền của lao động nữ khi tham gia quan hệ lao động thường tập trung vào những nội dung như bảo vquyền của lao động nữ trong lĩnh vực việc làm; học nghề; bồi dưỡng nâng cao trình độ nghề; tiền lương, an toàn, vệ sinh lao động; bảo hiểm xã hội; thời gian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi... Các quốc gia sẽ căn cứ vào điều kiện của quốc gia mình để quy định quyền ca lao động nữ

2.1. Quyền của lao động nữ trong lĩnh vực việc làm: 

Việc làm vấn đề đầu tiên được đặt ra khi bảo vệ quyền của lao động nữ bởi tiền đề cho việc bảo vệ lao động nữ trong các lĩnh vực khác. Khi việc làm thì lao động nữ mới điều kiện được hưởng quyền trong lĩnh vực tiền lương, thời gian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, bảo hiểm hội..

Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW) của Liên Hiệp Quốc được xây dựng nhằm bảo vệ phạm vi rộng lớn các quyền của phụ nữ. Xuất phát từ việc nhìn nhận phụ nữ nhóm người yếu thế, dễ bị xâm phạm quyền và lợi ích, Công ước đã thiết lập hệ thống những mục tiêu cho sự bình đẳng về quyền của phụ nữ là nh đẳng về hội, bình đẳng về kết quả các quyền các lĩnh vực hoạt động hội. Điều 11 Công ước CEDAW quy định: “Các nước tham gia Công ước phải áp dụng mọi biện pháp thích hợp đa bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ trong lĩnh vực việc làm nhằm đảm bảo những quyền như nhau trên sở bình đẳng nam nữ. Đồng thời Điểm b Điều 11 Công ước này cũng quy định quyền của lao động nữ trong lĩnh vực việc làm bao gồm: b)Quyền được hưởng các hội việc làm như nhau, kể cviệc áp dụng những tu chuẩn như nhau khi tuyển dụng; c)Quyền tự do lựa chọn ngành nghề việc m,... quyền được đào tạo nghề và đào tạo lại, kể cả thực tập nghề, đào tạo nâng cao đào tạo định k

Bình đẳng về quyền con người là n chỉ hoạt động của ILO khi tổ chức này được thành lập năm 1919. Trong bối cảnh thị trường lao động, cấm phân biệt đối xử trong lao động bước cần thiết đối với nhà nước nhằm xây dựng hội công bằng, cùng với đó sự thông qua của Công ước số 100 năm 1951 với mục tiêu thúc đẩy sự công bằng xóa bỏ sphân biệt đối x. Theo Nghị quyết ca Hội đồng kinh tế và hội của Liên Hiệp quốc năm 1958, ILO đã thông qua Công ước số 111 và khuyến nghị chống phân biệt đối xử về việc làm nghề nghiệp. Công ước số 111 đã đề ra mục tiêu bản là xóa bỏ mọi hình thức phân biệt về việc làm nghề nghiệp, đồng thời đây một văn kiện ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền của phụ nữ trong lĩnh vực lao động. Phân biệtđây được hiểu bất cứ sự ngược đãi, thiên vị hay ưu đãi trên sở sắc tộc, màu da, giới tính, tôn giáo...làm triệt tiêu hay hạn chế sbình đẳng về hội, đối xử trong việc làm nghề nghiệp. Điều 3 ng ước số 111 quy định

Mỗi nước thành viên chịu hiệu lực của Công ước này cam kết tuyên bố theo đuổi chính sách quốc gia với mục đích xúc tiến, bằng những phương pháp thích ứng với hoàn cảnh tập quán quốc gia, sự bình đẳng về may đối xử trong việc làm và nghề nghiệp để nhằm hủy bmọi sự phân biệt đối xử về mặt này

Pháp luật quốc tế cũng như pháp luật các quốc gia quy định quyền của lao động nữ trong lĩnh vực việc làm thông qua việc quy định trách nhiệm của nhà nước nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong vic đảm bảo việc làm cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho lao động nữ trong quá trình làm việc

* Quyền của lao động nữ trong lĩnh vực học nghề, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ knăng nghnghiệ

Theo quy định của Công ước số 111 của ILO thì thuật ngữ việc làmnghề nghiệpbao hàm cả việc được tiếp nhận đào tạo nghề, được tiếp nhận việc làm c loại nghề nghiệp cả các điều kiện sử dụng lao động

Điều 11 Công ước CEDAW ghi nhận quyền được theo học những chương trình dạy nghề bổ túc nghiệp vụ, kể cả các khóa truyền nghề, đào tạo nghiệp vụ nâng cao định kỳ là một trong những quyền cần được bảo vệ của lao động nữ, hướng tới a bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ trong lĩnh vực việc làm

Pháp luật quy định lao động nữ quyền được học nghề, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghề, nhà nước, người sử dụng lao động trách nhiệm tạo điều kiện cho lao động nđược học nghề, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ năng nghề. Việc pháp luật quy định quyền của lao động nữ trong học nghề, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề nhằm đảm bảo cho lao động nữ tìm được việc làm phù hợp thăng tiến trong công việc

2.2. Quyền của lao động nữ trong giao kết, thực hiện, chấm dứt hợp đồng lao động: 

Một trong những nguyên tắc của BLLĐ về giao kết hợp đồng đó nguyên tc bình đẳng khi giao kết, thực hiện và chấm dứt hợp đng lao động. Theo nguyên tắc này, các chủ thể giao kết HĐLĐ sự tương đồng về vị trí, cách, địa vị pháp phương thức biểu đạt trong quan hệ giao kết HĐLĐ. Bất cứ hành vi nào nhằm tạo thế bất bình đẳng giữa các chủ thể sẽ bị coi vị phạm pháp luật. Thực chất, quan hệ lao động quan hệ bất bình đẳng, người sử dụng lao động luôn là bên mạnh, bên quyền, bên được quản lý N, còn NLĐ thường vị trí bất lợi, họ chỉ tài sản duy nhất sức lao động họ c định bán sức lao động để thu nhập, vị thế của họ càng bất lợi hơn khi tương quan cung cầu trên thị trường lao động, đặc biệt với lao động nữ. Không chỉ với việc giao kết HĐLĐ, ngay cả với vấn đề thực hiện, chấm dứt HĐLĐ lao động nữ luôn đối tượng được pháp luật lao động quốc tế bảo vệ bằng những quy định pháp luật. Điều 11.1. c 11.2.a của CEDAW quy định:

1. Các nước tham gia Công ước phải làm mọi biện pháp thích hợp để xoá bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong lĩnh vực việc làm nhằm đảm bảo những quyền như nhau trên cơ sở bình đẳng nam nữ, đặc biệt là: …c. Quyền tự do lựa chọn ngành nghề và việc làm, quyền được thăng tiến, bảo đảm việc làm, mọi phúc lợi, điều kiện làm việc và quyền được theo học chương trình đào tạo, bổ túc nghiệp vụ, kể cả các lớp dạy nghề, đào tạo nghiệp vụ cao cấp và định kì;

2. Với mục đích ngăn chặn sự phân biệt đối xử với phụ nữ vì lí do hôn nhân hay sinh đẻ, bảo đảm cho phụ nữ thực sự có quyền làm việc, các nước tham gia Công ước phải áp dụng các biện pháp thích hợp nhằm: a. Ngăn chặn trừng phạt hành vi sa thải phụ nữ lí do thai, nghỉ đẻ hoặc kết hôn

Hay như để đảm bảo việc làm cũng như thu nhập của người lao động nữ, pháp luật các quốc gia đều những chính sách giúp bảo vệ quyền lợi của lao động nữ. Tại Bosnia và Herzegovina quy định lao động nữ được tạo điều kiện giao kết hợp đồng lao động mới nếu họ nhu cầu khi họ đang trong thời gian mang thai, nghỉ thai sản và nuôi con dưới 12 tháng tuổi

Về vấn đề này, Công ước quốc tế số 111 của ILO về chng phân biệt đối xử trong việc làm nghề nghiệp (năm 1960) cũng ghi nhận nguyên tắc: mọi người không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo... đều có cơ may về đi xử trong việc làm nghề nghiệp, trên sở không sự ưu đãi hay biệt đãi vì bất do . Pháp luật Việt Nam cũng tiếp cận vấn đề bảo vệ quyền lợi của lao động nữ trong việc kết, thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động với quan niệm tương tự

2.3. Quyền của lao động nữ trong lĩnh vực tiền lương: 

Công ước CEDAW cũng quy định về nội dung bảo vệ quyền của lao động nữ trong lĩnh vực tiền lương. Theo đó, nam nữ được quyền hưởng thù lao như nhau, kể cả phúc lợi, được đối xử như nhau với công việc giá trị ngang nhau ng như được đối xử như nhau trong đánh giá chất lượng công việc

Năm 1951, ILO cũng thông qua Công ước số 100 về trả công bình đẳng giữa lao động nam lao động nữ cho một công việc giá trị ngang nhau. Điều 2 Công ước quy định

Mỗi nước thành viên bằng những biện pháp thích hợp với các phương pháp hiện hành trong việc ấn định mức trả công, phải khuyến khích trong chừng mực phù hợp với các phương pháp ấy, bảo đảm việc áp dụng cho mọi người lao động nguyên tắc trả công bình đẳng giữa lao động nam lao động nữ đối với một công việc giá trị ngang nhau

Theo đó, thù lao bao gồm tiền lương bản, tiền công tối thiểu bất cứ khoản bsung, khoản thanh toán trực tiếp hoặc gián tiếp nào bằng tiền mặt hoặc các loại khác do người sử dụng lao động trả cho người lao động phát sinh tviệc làm của người lao động. Tiền công công bằng cho lao động nam lao động nữ cho việc làm giá trị ngang nhau liên quan đến tỷ lệ tiền công được thiết lập không sự phân biệt đối xử dựa trên giới tính. Việc trả lương bình đẳng giữa lao động nam lao động nnội dung chủ yếu của pháp luật về quyền của lao động nữ trong lĩnh vực tiền lương

2.4. Quyền của lao động nữ trong lĩnh vực thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi: 

Thời giờ làm việc thời giờ nghỉ ngơi luôn gắn liền với quyền của lao động nữ bởi liên quan đến sức khỏe của người lao động, sự hồi phục khả năng lao động, nhất khi phụ nữ phái yếu, đặc điểm sinh học khác biệt với lao động nam nên quyền của người lao động nữ liên quan đến thời giờ làm việc, nghỉ ngơi càng cần được chú trọng. 

Từ khi được thành lập, ILO đã thông qua nhiều công ước khuyến nghị liên quan đến thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, thể kể đến như: Công ước số 1 năm 1919 về độ dài thời gian làm việc công nghiệp, Công ước số 47 năm 1935 về tuần làm việc 40 giờ, Công ước số 106 năm 1957 về nghỉ hàng tuần, khuyến nghị số 166 năm 1962 về giảm giờ làm việc...

Ngoài những quy định được áp dụng đối với người lao động nói chung, nhằm đảm bảo quyền lợi của người lao động nữ, pháp luật các quốc gia thường những quy định riêng đối với đối tượng này như thời giờ làm việc, thời giờ làm thêm ti đa thời giờ nghỉ ngơi của lao động nữ trong những trường hợp đặc biệt. Chính phủ Philippine đã một chương riêng dành cho lao động nữ trong BLLĐ nước họ. Trong đó, Điều 130 thể hiện nhất sự quan tâm của nhà nước đối với lao động nữ về vấn đề cấm bố trí công việc cho lao động nữ làm việc vào ban đêm từ 10 hoặc 12 giờ đêm đến sáu giờ 

sáng hôm sau, trừ trường hợp lao động nữ được nghỉ ngơi liên tục từ 9 tiếng trở lên trước hoặc sau thời gian làm việc như trên. Hoặc là việc phân biệt đối xử về giờ làm của NSDLĐ đối với NLĐ cũng được coi hành vi phi pháp (Điều 248 BLLĐ Philippine). Ngoài ra, BLLĐ còn quy định giờ làm việc bình thường của lao động nữ 8 gi/ngày, 5 ngày/tuầnBLLĐ của Liên Bang Nga đã dành ra một phần riêng quy định về thời giờ làm việc, quy định đặc biệt về thời giờ cho phụ nữ thai nsau

Người sử dụng lao động trách nhiệm bố trí thời giờ làm việc không trọn ngày hoặc không trọn tuần theo đề nghị của phụ nữ thai, Không được phép huy động làm thêm giờ đối với phụ nữ thai. Hay việc cấm làm việc ban đêm với phụ nữ thai, nuôi con nhỏ dưới 3 tuổi, phụ nữ hoặc đàn ông độc thân nuôi con nhỏ dưới 5 tuổi...

2.5. Quyền của lao động nữ trong lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động: 

Trong quá trình lao động, để đạt được hiệu quả làm việc thì người lao động cần được đảm bảo một môi trường làm việc an toàn, tránh các rủi ro từ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp nhất với nữ giới mang những đặc trưng về sinh học khác biệt với nam giới. Pháp luật về quyền của lao động nữ thường quy định những vấn đề về điều kiện, chế độ làm việc đc biệt cho lao động nnhằm đảm bảo sức khỏe khả năng lao động của lao động n

Nội dung quyền này bao gm quyền được bảo đảm môi trường làm việc, điều kiện làm việc an toàn, không bị tai nạn lao động hoặc mắc các bệnh nghề nghiệp làm ảnh hưởng đến sức khỏe. Điều 11 Công ước CEDAW quy định cả nam nữ đều bình đẳng trong quyền được bảo vsức khỏe bảo đảm an toàn lao động, đặc biệt bảo vệ chức năng sinh sản của phụ nữ. Theo khoản 3 Điều 1 Công ước số 111 của ILO thì những thuật ngữ việc làmnghề nghiệpbao hàm cả việc được tiếp nhận đào tạo nghề, được tiếp nhận việc làm các loại nghề nghiệp và cả các điều kiện sử dụng lao động. Như vậy, mọi sự phân biệt trong các điều kiện sử dụng lao động giữa lao động nam lao động nữ cần được xóa bỏ, qua đó bảo vệ quyền trong lĩnh vực an toàn vệ sinh lao động của lao động nữ

2.6. Quyền của lao động nữ trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội: 

Bảo hiểm xã hội một bộ phận của hệ thống an sinh hội, khi người lao động nhất lao động nữ bị mất hoặc giảm thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hưu trí ... nhằm đảm bảo an sinh hội

Pháp luật quốc tế cũng như pháp luật các quốc gia đều những quy định đảm bảo sự bình đẳng giữa lao động nam lao đng nữ trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội

Điểm c khoản 1 Điều 11 Công ước CEDAW quy định lao động nữ quyền được hưởng bảo hiểm hội, đặc biệt trong trường hợp hưu trí, thất nghiệp, đau ốm, tàn tật các tình trạng mất khả năng lao động khác

Công ước số 102 của ILO về Quy phạm tối thiểu về an sinh hội cũng ghi nhận quyền của lao động nữ được hưởng các chế độ bảo hiểm hội mà không bất sự phân biệt đối xử nào với lao đng nam, bao gồm các chế độ trợ cấp trong trường hợp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp y tế, trợ cấp thai sản một nội dung gắn với chức năng sinh sản của lao động nữ

Phụ nữ với thiên chức cao quý đó làm vợ, làm mẹ, thực hiện việc sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái, tái sản sinh nòi giống. Tuy không thể phủ nhận vai trò của nam giới, bởi nếu không sự kết hợp của họ thì nữ giới không thể thực hiện thiên chức làm vợ, làm mẹ như một quy luật tất yếu của tự nhiên nhưng chỉ riêng phụ nữ mới thể hiện được mình trong cách người vợ, người mẹ. Đây là quyền thiêng liêng về mặt giá trị ý nghĩa nhất quyền làm mẹ được phổ biến phải đi qua hành vi sinh đẻ. không chỉ đơn thuần sthừa nhận về mặt pháp trong các đạo luật thành văn giá trị hội ý nghĩa nhân văn văn hóa, sức sống bền vững trong lịch sử, hằn sâu trong tiềm thức của con người. Quyền làm mẹ của lao động nữ được thể hiện nhất qua chế độ thai sản đó chính sách chăm sóc y tế trong thời gian mang thai, sinh con và sau khi sinh, trợ cấp bằng tiền cho thời gian nghỉ việc không hưởng lương

Tùy vào đặc thù của lao động nữ của từng quốc gia như sức khỏe, thể lực, chức năng thai sản mỗi quốc gia quy định khác nhau về điều kiện, thời gian, mức hưởng chế độ bảo hiểm hội. dụ như Phụ nữ Vương Quốc Anh 39 tuần nghỉ thai sản trong đó 10 tuần hưởng nguyên lương hay Iceland, Thụy Điển cho phép chồng được nghỉ hơn mười tuần trong thời gian vợ sinh con

2.7. Quyền của lao động nữ trong lĩnh vực xử lý kỷ luật lao động: 

Khi lao động nữ hành vi vi phạm pháp luật lao động thì pháp luật buộc họ phải chịu các chế tài đó xử lý kỷ luật. Trong quá trình xử kỷ luật lao động nữ, người sử dụng lao động rất dễ những nh vi làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích của lao động nữ, xâm phạm đến danh dự nhân phẩm của h. Thậm chí những nơi còn xảy ra hiện tượng lạm quyền để sa thải lao động nữ khi họ vi phạm kỷ luật nhưng trong thời gian mang thai, kết hôn. Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của lao động nữ thì pháp luật những quy định về quyền của lao động nữ trong lĩnh vực xử kỷ luật lao động

Mỗi quốc gia sẽ ch quy định khác nhau về nội dung cụ thể của nội quy lao động nhưng hình thức kỷ luật dành riêng cho lao động nữ trong thời kỳ thai sn thì tất cả các nước đều giống nhau. Phụ nữ khi mang thai không chỉ thực hiện riêng thiên chức của mình còn đang góp phần tạo ra một thế hlao động mới cho đất nước. vậy việc áp dụng hình thức kỷ luật đối với lao động nữ các nước đều bị hạn chế. tất cả các quc gia trên thế giới đều cấm NSDLĐ không được phép hạ lương, đình chỉ lao động... hay chấm dứt hợp đồng lao động với lao động nữ đang trong thời kỳ mang thai, sinh con hay nuôi con nhỏ. Ví dnhư Nhật Bản, Điều 19 Luật tiêu chuẩn lao động 1976 nghiêm cấm việc sai thải lao động nữ đang trong thời gian nghỉ sinh con... Điều này cho thấy các quốc gia đều rất chú trọng vào việc bảo vệ lao động nữ không bị kỷ luật dưới nhiều hình thức trong thời gian họ phải thực hiện nhiệm vụriêng của mình

2.8. Quyền của lao động nữ trong việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm: 

Phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, quấy rối tình dục liên quan đến danh dự, nhân phẩm của người lao động, kcó thể xác định và định giá bằng tiền tuy nhiên lại gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống tinh thần của lao động nữ. Theo Điều 12 Tuyên ngôn quốc tế về quyền con, không một ai bị m phạm một ch độc đoán về đời sống riêng , gia đình, nhà , hay thư tín, cũng như bị xúc phm danh dự hay tiếng tăm của mình. Mọi người đều quyền được luật pháp bảo vệ, trước những xâm phạm xúc phạm như vậy. Bảo vệ danh dự nhân phẩm của lao động nữ được thể hiện qua việc chống lại mọi sự xúc phạm đến người lao động đảm bảo chủ sử dụng lao động phải tôn trọng họ. Tại Công ước số 29 Công ước số 105 của ILO nhn mạnh các công ty hoc Hiệp hội nhân không được cưỡng bức lao động. Điều 6 Luật Tiêu chuẩn lao động của Hàn Quốc quy định: người sử dụng lao động không được cưỡng bức người lao động m việc bằng dùng bạo lực, đe dọa giam giữ hoặc các biện pháp khác nhằm hạn chế quyền tự do về tinh thần thể chất của họ. Theo khoản 1 Điều 2 của Công ước số 29 thì lao động cưỡng bức tất cả các công việc hay dịch vụ do một người bất kỳ thực hiện dưới sự đe dọa bằng hình phạt người phải thực hiện công việc hay dịch vụ đó không tự nguyện làm. Xut phát từ quyền tự do lựa chọn việc làm người lao động được tự nguyện xác định công việc của mình trong mối liên hệ với nhiều yếu tố khác, lao động nluôn được tôn trọng danh dự nhân phẩm, không ai quyền xúc phạm đến thân thể tinh thần của họ. Trong quan hệ lao động họ đối tác bình đẳng, người sử dụng lao động phải tôn trọng bình đẳng với đối tác. Nếu lao động nữ vi phạm kỷ luật thì người sử dụng lao động cũng không được dùng nhục hình các hình thức khác xâm phạm đến thân thể, danh dự của họ. Nếu lao động nữ tham gia đình công hoặc những hành vi gây thiệt hại cho công ty thì chủ sử dng vẫn phải đối xử đúng đắn với họ. Tại Điều 11 Khuyến nghị chung số 19 của CEDAW nhấn mnh: Bình đẳng việc làm thể tổn hại nghiêm trng khi phụ nữ bị bạo lực trên sở giới, chẳng hạn như quấy rối tình dục tại nơi làm việc. Cách ứng xử như vậy thể làm nhục phụ nữ, thể gây ra một vấn đề về an toàn sức khỏe, mang tính chất phân biệt đối xử khi người phụ nữ các sở đáng để tin rằng sự phản đối của mình sẽ gây bất lợi cho bản thân về vấn đề việc làm, kể cả việc thăng tiến, hoặc khi cách xử như vậy tạo ra môi trường thù địch nơi làm việc. Theo ILO, quấy rối tình dục ảnh hưởng xấu đến bình đẳng giới nơi làm việc. Năng suất lao động của doanh nghiệp cũng bị ảnh hưởng bởi hành vi này làm xấu đi các quan hệ lao động. Chính vì vậy, không chỉ tại Việt Nam nhiều nước khác trên thế giới cũng coi quấy rối tình dục như một vấn đề nghiêm trọng người lao động thể gặp phải nơi làm việc. Cuộc khảo sát được thực hiện Trung Quốc năm 2009 cho thấy cứ 1 trong 5 lao động được hỏi đã từng bị quấy rối nh dục nơi làm việc. ớc Mchỉ trong năm 2007 cũng nhận được hơn 12.500 đơn tố cáo về quấy rối tình dục liên quan đến công việc. Trong khi đó, theo nghiên cứu gần đây Thụy Sỹ thì một nửa số người lao động nước này khả năng bị quấy rối tình dục công sở. Kết quả nghiên cứu về quấy dối tình dục tại nơi làm việc do Bộ Lao động Thương binh hội ILO thực hiện năm 2012 đã nhận định quấy rối tình dục đang trở nên phổ biến đó thách thức hội cần giải quyết

Trong quan hệ lao động, quyền của lao động nữ được pháp luật ghi nhận trong mối quan hệ với người sử dụng lao động. Xét mối tương quan thì lao động nữ luôn vị trí yếu thế phụ thuộc; lao động nữ phải trực tiếp tiến hành tham gia vào hoạt động sản xuất, đối mặt với những rủi ro, ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe. Lao động nữ phải chịu sự điều hành, quản từ người sử dụng, do nguyên nhân về sức ép năng suất lao động thể do biến hóa suy đồi về đạo đức của người sử dụng lao động nữ phải làm việc trong điều kiện không an toàn, bị xúc phạm danh dự nhân phẩm, quấy rối tình dục nên việc bảo vệ quyền nhân thân cho lao động nữ cần thiết.

3. Vai trò của pháp luật về quyền của lao động nữ: 

Trong mối quan hệ với người sử dụng lao động, người lao động đặc biệt lao động nữ luôn vị trí yếu hơn, sự phụ thuộc chịu sự quản , điều hành của người sử dụng lao động. Do đó, muốn tạo ra quan hệ lao động được bình đẳng hơn, pháp luật lao động nói chung pháp luật về quyền của lao động nữ đã những quy định để bảo vệ người lao động, qua đó hạn chế sự lạm quyền của người sử dụng lao động. Bảo vệ người lao động được hiểu ngăn chặn mọi sự xâm hại thể xảy ra đối với người lao động khi tham gia quan hệ lao động. Với vai trò đó bảo vệ người lao độngnguyên tắc bản quan trọng nhất của luật pháp về lao động

Trong quan hệ lao động, quyền của chủ thể này bao giờ cũng tương ứng nghĩa vụ của chủ thể bên kia tạo ra mối liên hệ pháp thống nhất. Chính vậy, không chthể nào chỉ quyền hoặc chỉ nghĩa v. Pháp luật về quyền của lao động nữ giúp cho quyền của lao động nữ được bảo vệ, thực thi trên thực tế. Chỉ khi người lao động được đối xử công bằng, quyền lợi íccủa hđược bảo vệ thọ mới tạo ra một môi trường lao động đảm bảo mọi điều kiện tốt nhất

Pháp luật về quyền của lao động nữ giúp cho vấn đề bình đẳng giới được đề cập. Như đã phân tích, tư tưởng trọng nam khinh nữvẫn còn duy trì cho tới ngày nay. Nhiều người sử dụng lao động chú trọng tuyển dụng lao động nam thay lao động nữ. Việc pháp luật quy định quyền của lao động nữ giúp họ điều kiện tốt hơn trong các quan hệ lao động như việc làm, đào tạo nghề..

Khi quyền của lao động nữ được đảm bảo nhờ pháp luật thì sẽ tạo điều kiện ổn định, hài hòa mối quan hệ lao động, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, khi đó sẽ làm phát triển thị trường lao động.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo