Người đồng tính là gì? Quyền của người đồng tính trong hôn nhân gia đình

Xu hướng tính dục khác với ba cấu thành khác của tính dục bao gồm giới tính sinh học, bản dạng giới và thể hiện giới. Có các xu hướng tính dục thường gặp là: dị tính, đồng tính, song tính, vô tính.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6586

Số điện thoại Luật sư: 058.7999997

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Khái niệm người đồng tính: 

Thuật ngữ đồng tínhhay viết tắt của cụm từ đồng tính luyến ái(homosexual) xuất hiện ngày càng nhiều phổ biến. Cụm từ này xuất hiện lần đầu trong một tiểu thuyết của nhà văn Đức Karl Maria Kertbenty xuất bản năm 1869 nhằm phản đối việc nước Phổ ban hành luật chống lại các quan hệ tình dục trái tự nhiên (sodomy law), sau đó lần lượt được sử dụng li trong các tác phm Discovery of the Soul của 

Gustav Jager, Psychopathia Sexualis (1886) của Richard von Krafft Ebing, thuật ngữ này cũng được ng để phân biệt với người dị tính song tính. Hiện tượng đồng tính luyến ái sự hấp dẫn tình cảm, tình dục cảm xúc giữa những người cùng giới tính nam với nam, nữ với nữ. Những người đồng tính luyến ái nam trong tiếng Anh được gọi gay, còn những người đồng tính luyến ái nữ les hay còn gọi lesbian

rt nhiều quan điểm liên quan đến đồng tính, song tính,... cho rằng đây bệnh, là điều trái với tự nhiên, thể chữa trị được. Tuy nhiên cũng rất nhiều quan điểm cho rằng đồng tính điều tự nhiên của hội. Để hiểu hơn về đồng tính, cần tiếp cận người đồng tính dưới nhiều góc độ khác nhau như y học, hội, khoa học

Dưới góc độ y học: Người đồng tính vẫn mang giới tính nam hoặc nữ vẫn xem mình nam hoặc nữ nhưng chỉ bị hấp dẫn bởi những người cùng giới tính. Trong một thời gian khá dài nhiều ý kiến cho rằng đồng tính bệnh hoạn, thể chữa trị bằng y học một quan điểm sai lầm, bởi người đồng tính vẫn hoàn toàn mang những đặc điểm sinh học như những người dị tính khác, không sự khiếm khuyết nào về cấu tạo sinh học

Dưới góc độ xã hội: Với cách tiếp cận hội học thì đồng tính luyến ái thể được coi một hiện tượng lệch chuẩn. Điều này xuất phát từ việc đồng tính xuất hiện làm phá vỡ những quan điểm đạo đức hội, quan điểm tôn giáo cũng như pháp luật trước đó của hầu hết các quốc gia trên thế giới, trái với những chuẩn mực hội đã tồn tại trong suốt thời gian dài trước đó. Tuy nhiên, sau một thời gian dài, hiện tượng đng tính luyến ái đã thay đổi quan niệm của rất nhiều quốc gia, dần dần được chấp nhận, được coi như người bình thường, một giới tính khác trong hội, thậm chí được pháp luật chấp nhận bảo vệ

Dưới góc độ khoa học: Để hiểu biết hơn vđồng tính, người đồng tính cũng như các thuật ngữ khác liên quan dưới góc nhìn khoa học, trước hết cần làm các thuật ngữ về tính dục và xu hướng tính dục

Từ những năm 1970, Hội đồng giáo dục thông tin về tình dục Mỹ (Sexuality Information and Education Council of the United States SIECUS) đã đưa ra định nghĩa hiện đại về tính dục như sau

Tính dục tổng thể con người, bao gồm mọi khía cạnh đặc trưng của con trai hoặc con gái, đàn ông hoặc đàn biến động suốt đời. Tính dục phản ánh tính ch con người, không phải chỉ bản chất sinh dục

một biu đạt tổng thể của nhân cách, tính dục liên quan tới yếu tố sinh học, tâm , hội, tinh thần văn hóa của đời sống. Những yếu tố này ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách mối quan hệ giữa người 

với người và do đó tác động trở lại hội. Theo định nghĩa của Hiệp hội Tâm học Hoa Kỳ (viết tắt APA) thì

Xu hướng tính dục một sự hấp dẫn tính bền vững về cảm xúc hoặc về mt tình dục của một người về phía những người khác giới, cùng giới hoặc cả hai giới

Xu hướng tính dục khác với ba cấu thành khác của tính dục bao gồm giới tính sinh học, bản dạng giới thể hiện giới. các xu ớng tính dục thường gặp

Di tính Heterosexual hiện tượng một người bị hấp dẫn về mặt tình cảm tình dục với người khác giới tính, cho rằng mình giới tính trùng với giới tính sinh học mình được sinh ra. Đây xu hướng tính dục dễ nhận thấy nhất, chiếm đông đảo, đa số trong hội

Đồng tính Homosexual là hiện tượng một người bị hấp dẫn với người cùng giới tính với mình

Song tính Bisexual hin tượng một cho rằng mình giới tính trùng với giới tính sinh học mình được sinh ra bị hấp dẫn với cả hai giới tính nam nữ

tínhasexual hiện tượng một người không bị hấp dẫn bởi bất ai, không bị hấp dẫn bởi bất giới tính nào

Hiện nay, do người dị tính chiếm đa số trong hội, đã hình thành nên tự tưởng về hình gia đình với sự kết hợp giữa một nam một nữ chính hình gia đình kiểu mẫu của hội, trở thành quan niệm truyền thống của nhiều quốc gia trên thế giới

Do đó, người đồng tính người bị hấp dẫn bởi một người có cùng giới tính với nh. Những người đồng tính luyến ái nam trong tiếng Anh được gọi gay. Còn những người đồng tính luyến ái nữ les hay còn gọi lesbian. Tuy nhiên, rất khó để nhận biết một người thuộc xu hướng tính dục nào, bởi không phải xu hướng nào cũng được biểu lra, thậm cthường bị giấu kín. Xuất phát từ sự khác biệt của người đồng tính với người dị tính, người đồng tính chiếm số ít trong hội, dễ bị kì thị, xa lánh nên họ thường không muốn công khai. Bản thân người đồng tính cũng rất khó khăn để chấp nhận, để hiểu bản thân của mình, nhiều người cn rất nhiều thời gia thậm chí đến giai đoạn trưởng thành mới thể nhận định được đầy đủ về xu hướng tính dục của mình. Trong quá trình tìm hiểu bản thân, một số người đã cố gắng để thay đổi xu hướng tính dục của bản thân từ đồng tính sang dị tính nhưng không thành công

Cũng theo quan điểm của Hiệp hội tâm học Mỹ (American Psychological Association APA) đồng tính hoàn toàn không phải một sự rối loạn tâm sinh một hiện tượng sinh hc tự nhiên, chịu sự tác động qua lại phức tạp của các yếu tố di truyền yếu tố môi trường tử cung trong giai đoạn đu thai nhi. Theo đó, rất nhiều yếu tố tác động ảnh hưởng đến xu hướng nh dục của một người như các yếu tsinh học, tâm , hội. Tuy nhiên, yếu tố tâm , hội chỉ một trong số các yếu tố phụ góp phần thể hiện xu hướng của người đồng tính, yếu tố quyết định xu hướng tính dục của một nhân vẫn yếu tố sinh học, điều này đồng nghĩa với việc đồng tính một bản chất tự nhiên, vốn của một người khi hđược sinh ra, người đồng tính không thể lựa chọn được xu hướng tính dục của mình

Năm 1973, Hiệp hội Tâm thần Hoa K(American Psychiatric Association) đã loại đồng tính luyến ái khỏi danh sách các bệnh sau một cuộc bỏ phiếu, với 58% phiếu thuận 42% phiếu chống (chưa kể phiếu trắng), đến năm 1990 Tổ chức y khoa thế giới cũng đã công nhận đồng nh không phải một loại bệnh. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, một bộ phận không nhỏ vẫn coi đồng tính là một loại bệnh, thể thay đổi được xu hướng tính dc này bằng các biện pháp y học. Một bộ phận khác cho rng đồng tính do tác động về tâm , môi trường gây ra nên họ tìm cách khắc phục bằng việc để người đồng tính yêu, kết hôn người khác giới. Song song với đó những quan điểm về đạo đức tôn giáo đã gây nên cũng áp lực không hề nhỏ đối với người đồng tính, khiến họ mệt mỏi, trầm cảm, thậm chí thể dẫn đến hành vi tự tử. Chính những áp lực này khiến cho người đồng tính không dám thể hiện bản thân, công khai xu hướng tính dục của bản thân, khiến họ cảm thấy sợ, tự phủ nhận bản thân, không thể chấp nhận được xu hướng tình dục của chính bản thân mình

Rt khó khăn để người đồng tính công khai xu hướng tình dục của bản thân. Việc công khai của người đồng tính cho thấy họ muốn thể hiện xu hướng tính dục của bản thân với cộng đồng, hội, cho họ thể gặp nhiều vấn đề vsự thị, bị bạo hành, ngược đãi, ... Điều này cũng thể hiện người đồng tính muốn được hội công nhận xu hướng tính dục của mình, muốn được hội công nhận quyền, bảo vệ quyền, hơn hết khao khát được thực hiện quyền của chính người đồng tính

2. Quyền của người đồng tính trong hôn nhân và gia đình là gì:

2. 1. Quyền của người đồng tính:

a) Quyền của người đồng tính bản chất quyền tự nhiên của con người 

Trước hết, quyền tự nhiên những quyền được cho quan trọng cho mọi con người, loài động vật hoặc thậm chí là mọi sinh vật. Những người theo hc thuyết về quyền tự nhiên cho rằng quyền con người những bẩm sinh, vốn mọi nn sinh ra đều được hưởng chỉ đơn giản bởi họ thành viên của gia đình nhân loại. Các quyền con người, do đó, không phụ thuộc vào phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa hay ý chí của bất cứ nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức, cộng đồng hay nhà nước nào

Theo Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ năm 1776, cũng như Tuyên ngôn nhân quyền dân quyền của Pháp năm 1789 các quyền tự nhiên được bao gồm: quyền sống, tự do mưu cầu hạnh phúc. Cũng trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu: Tất cả mọi người đều sinh ra quyền bình đẳng. To hóa cho họ những quyền không ai thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, quyền được sống, quyền tự do quyền mưu cầu hạnh phúc. Quyền tự nhiên của người đồng tính được thể hiện qua các quyền chủ yếu như

Quyền được sống và tự do

ng như tất cả các nhân khác trong hội, người đồng tính sinh ra đã một quyền bản, quyền được sống, được bảo đảm an toàn về thân thể, bảo đảm về sức khỏe, người đồng tính cũng quyền hưởng những quyền này một cách nh đẳng ngang bằng như những người khác

Quyền tự nhiên cũng cho rằng con người sinh ra tự do, tự do khả năng tự quyết, khả năng làm những điều mình mong muốn không gặp bất một cản trở nào trong trường hợp không nh hưởng đến quyền của người khác. thể thấy, quyền được ng khai xu hướng tính dục, sống theo xu hướng tình dục cũng một trong số những biểu hiện tiêu biểu của quyền tự do. Tuy nhiên, trên thực tế, khi người đồng tính công khai xu hướng tính dục của mình lại gặp phải rất nhiều những cản trở của hội, những quan điểm sai lầm này làm ảnh hưởng đến quyền được thoải mái, tự do công khai sng với đúng bản thân của người đồng nh, kiến họ không thể thực hiện quyền tự docủa mình. Bên cạnh đó, khi người đồng tính công khai sống theo xu hướng tính dục của mình không làm ảnh hưởng đến lợi ích chung của người nào khác, không ảnh hưởng đến lợi ích chung của toàn hội thì quyền này của người đồng tính cần được công nhận bảo vệ

Quyền mưu cầu hnh phúc thể hiểu mưu cầu hạnh phúc việc con người ước muốn cố gắng làm mọi điều để tìm kiếm, đạt được hạnh phúc cho bản thân. Đối với người đồng tính sự mưu cầu hnh phúc thể chỉ đơn giản quyền được sống với đúng xu hướng tính dục của mình, tìm kiếm và sống hết mình với giá trị của bản thân, được hội tôn trọng thừa nhận. Tuy nhiên, với tưởng, quan điểm chung của hội hiện nay, rất khó để người đồng tính được thực hiện quyền này của bản thân.

b) Quyền của người đồng tính bị hạn chế hơn so với quyền của c chủ thể khác trong xã hội 

Quyền của người đồng tính quyền tự nhiên, quyền con người tuy nhiên, quyền này của người đồng tính bị hạn chế hơn rất nhiều so với những chủ thể khác trong hội. Trong các quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc, người đồng tính mong muốn được kết hôn, được lập gia đình, được thực hiện các quyền hôn nhân gia đình, được pháp luật tôn trọng bảo vệ các quyền đó. Tuy nhiên, quyền của người đồng nh nói riêng quyền của người LGBTI nói chung đều rất khó đthực hiện trên thực tế. dụ điển hình người dị tính hoàn toàn được thoải mái trong việc công khai giới tính, sống với xu hướng tính dục của bản thân, được pháp luật công nhận bảo vệ, không bị người khác thị. Nhưng người đng tính người LGBTI rất khó để thực hiện quyền này, họ luôn bị hạn chế những quyền này bởi các quy định của pháp luật, bởi các quy định của tôn giáo, bởi cả quan điểm truyền thống của hội

một số quốc gia Hồi giáo, quan hệ đồng tính bất hợp pháp, người vi phạm có thể đi nặng nhất tử hình. Việc tử hình thường bốn loại: cả dân làng cùng ném đá đến chết; bị treo cổ; bị chặt đầu; hoặc được gột rửa bằng phương pháp đẩy từ một tng cao của một công trình kiến trúc. Như điều luật Sharia, cho rằng việc đồng tính luyến ái một tội ác, kẻ gian, cái chết thường hình phạt cho những người phạm tội. Nigeria, luật liên bang của nước này coi hành động quan hệ nh dục giữa 2 người đồng tính trọng tội phải bị phạt . một số tiểu bang sử dụng luật Hi giáo, những người đàn ông vi phạm điều này sẽ phải chịu tội chết. Ngoài ra, hồi tháng 1.2016, nước này còn ban hành một luật cấm những người đồng tính nam trên cả nước tham gia các buổi tụ tập hay lập hội nhóm. Điều này cho thấy người đồng nh đang bị hạn chế quyền rất nhiều so với người dị tính

Việc thực hiện các quyền này của người đồng tính phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố như các giá trị truyền thống, chính trị, tôn giáo, pháp luật, ... tại mỗi quốc gia, khu vực khác nhau.

c) Quyền của người đồng tính cần được ghi nhận bảo vệ trong pháp luật 

Người đồng tính luôn được coi đi tượng yếu thế, nhóm người dễ bị tổn thương trong hội. Mặc không định nghĩa chính thức chung nào được đưa ra về các nhóm người dễ bị tổn thương, tuy nhiên thể hiểu rằng khái niệm này chỉ những nhóm, cộng đồng vị thế về chính trị, hội hoặc kinh tế thấp hơn, từ đó khiến họ nguy cao hơn bị bỏ quên hay bị vi phạm các quyền con người, bởi vậy, họ cần được chú ý bảo vệ đặc biệt so với những nhóm, cộng đồng người khác. Nhóm người này bao gồm lao động tình dục, phụ nữ nhập , người tiêm chích ma túy, người H và nhóm thiểu số về giới tính dục. Người đồng tính được coi người thiểu số về giới tính dục

Hiện nay, rất nhiều quyền được coi cần thiết của người đồng tính vẫn chưa được pháp luật ghi nhận bảo vệ như: quyền kết hôn cùng giới tính, quyền nuôi con nuôi của các cặp đồng tính, ... Việc ghi nhận bảo vệ quyền của các đối tượng này góp phần làm giảm đi nh dbị tổn thươngcủa nhóm đối tượng này với các nhân khác trong hội, để người đồng tính được ghi nhận quyền, tiếp cận quyền, thực hiện quyền, bảo vệ quyền, ... được công bằng so với các chủ thể khác

Khi ghi nhận quyền của người đồng tính cần ghi nhận quyền của người đồng tính dưới góc độ quyền con người nói chung, quyền vốn khi người đó được sinh ra. Người đồng tính cũng một ng n hoàn toàn bình thường trong hội, họ phải thực hiện đầy đủ các nga vụ trách nhiệm như những công dân khác, nên họ hoàn toàn quyền như những công dân khác. Do đó, cần phải sử dụng quyền con người để thừa nhận và bảo vệ các quyền lợi của người đồng nh

Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 của Liên hợp quốc đã ghi nhận

Ai cũng được hưởng những quyền tự do ghi trong bản Tuyên Ngôn này không phân biệt đối xử bất cứ do nào, như chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc dân tộc hay hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào khác. Ngoài ra không được phân biệt về quy chế chính trị, pháp hay quốc tế của quốc gia hay lãnh thổ người đó trực thuộc, nước độc lập, bị giám hộmất chủ quyền hay bị hạn chế chủ quyền (Điều 2)

Bên cạnh một số quyền bản khác, người đồng tính cần được hưởng đầy đủ các quyền sau

Quyền được tôn trọng về phẩm giá của mỗi nhân: mọi người sinh ra đều tự do bình đẳng về phẩm giá các quyền (Điều 1)

Quyền tự do bình đẳng về nhân phẩm quyền, quyền sống, tự do an toàn nhân; quyền được thừa nhận cách con người trước pháp luật khắp mọi nơi, bình đẳng trước pháp luật, được pháp luật bảo vệ như nhau, không bất kỳ sự phân biệt nào; quyền tự do với cuộc sống riêng , quyền tự do ngôn luận bày tỏ quan điểm; quyền làm việc, tự do làm việc, hưởng các điều kiện làm việc như nhau không bị phân biệt đối xử (các Điều 1, 3, 6, 7, 12, 19 23)

Quyền được bảo vệ, không bị tra tấn hay bị đối xử, xử phạt một cách tàn bạo, nhân đạo hay hạ thấp nhân phẩm, được bảo vệ chống lại mọi nh vi, hình thức phân biệt đối xử hoặc xúi giục phân biệt đối xử; quyền được pháp luật bảo vệ chống lại các hành vi can thiệp hoặc xâm phạm đời sống riêng , gia đình, nơi , danh dự uy tín, gia đình được nhà nước hội bảo vệ (các Điều 5, 7, 12 16)

Quyền kết hôn xây dựng gia đình: nam nữ khi đtuổi đều quyền kết hôn xây dựng gia đình, không có bất kỳ sự hạn chế nào về chủng tộc, quốc tịch tôn giáo. Họ được hưởng mọi quyền bình đẳng như nhau khi kết hôn, trong thời gian chung sống sau khi ly hôn (Điều 16)

Quyền bình đẳng trong việc hưởng các dịch vụ hội (Điều 21)

Tóm lại, quyền của người đồng tính một biểu hiện cụ thể của quyền tự nhiên, tính chất hội, các quyền lợi đó chỉ được bảo đảm trên thực tế khi được ghi nhận bảo vệ bởi pháp luật.

2. 2. Quyền của người đồng tính trong hôn nhân và gia đình:

a) Quan điểm về hôn nhân và gia đình:

Trước hết, hôn nhân và gia đình là những yếu tố liên quan đến kết hôn, ly hôn, quan hệ giữa vợ chồng, giữa cha mẹ con, giữa các thành viên khác trong gia đình; cấp dưỡng; xác định cha, mẹ, con,... những vấn đề khác liên quan

Các quan niệm hiện nay đều cho rằng, hôn nn một sự liên kết giữa một người đàn ông một người đàn , được gọi vợ chồng. Hôn nhân tạo ra quyền lợi nghĩa vgiữa họ, cũng như giữa hcon cái của họ, giữa họ gia đình của người kia. Các nhân thể kết hôn một số do, bao gồm các mục đích pháp , hội, tự nguyện, tình cảm, tài chính, tinh thần tôn giáo, Hôn nhân thể được công nhận bởi một nhà nước, một tổ chức, một quan tôn giáo, một nhóm bộ lạc, một cộng đồng địa phương

Định nghĩa về hôn nhân khác nhau trên khắp thế giới, tùy vào đặc điểm văn hóa, chính trị, tôn giáo, ... của mỗi quốc gia, khu vực khác nhau

Theo Viện Từ Điển Hc và Bách Khoa Thư Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam: Hôn nhân sự kết hợp giữa hai nhân thuộc hai giới tính khác nhau thông qua các bước với những nghi thức nhất định để thành lập gia đình, thực hiện các chức năng chủ yếu là tái sản xuất nòi giống, giáo dục con cái sản xuất kinh tế

Hôn nhân theo luật dân sự La liên minh suốt đời giữa người đàn ông người đàn bà cùng chung những quyền của con người và Tợng đế. Hồi giáo coi kết hôn việc làm cần thiết để xây dựng, gắn kết gia đình, trao đổi yêu thương, thanh lọc bản tn khỏi những điều ô uế, cân bằng nhu cầu sinh tự nhiên của con người một cách hợp đạo đức. Bên cạnh đó kết n cách tốt nhất để sinh con, duy trì nòi giống, để giữ gìn, bảo vệ dòng tộc, huyết thống tránh được nhiều bệnh tật nguy hiểm. Kết hôn mang lại sự bình yên, an lành thanh thản trong tâm hồn, giúp mỗi nhân trở thành người chồng, người vợ, người cha, người mthanh khiết cao quý

Gia đình một cộng đồng người sống chung gắn với nhau bởi các mối quan hệ tình cảm, quan hn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng. 

Gia đình được coi một phạm trù đặc biệt trong hội học, người ta xem xét gia đình như một nhóm hội nhỏ, đồng thời như một thiết chế hội mà có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình hội hóa con người. Theo Liên hợp quốc, gia đình một thiết chế hội đặc thù, một nhóm hội nhỏ các thành viên của gắn với nhau bởi quan hhôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của mỗi thành viên cũng như để thực hiện tính tất yếu của hội về tái sản xuất con người

Như vậy, hầu hết các quan điểm về hôn nhân gia đình đều cho rằng hôn nhân một quan hệ giữa nam nữ, giữa vợ chồng, tiền đề xây dựng gia đình

Nhìn từ góc độ của người đồng tính, thể thấy những quan điểm này đã giới hạn đi quyền của người đồng tính, những người cùng giới tính, rt khó có khả năng một quan hệ hôn nhân được thừa nhận, kéo theo đó những giới hạn về quyền hôn nhân gia đình. Điều này đã hạn chế đi quyền của người đồng tính quy định trong Điều 16 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 của Liên hợp quốc: Đến tuổi thành hôn, thanh niên nam nữ quyền kết hôn lập gia đình không bị ngăn cấm do chủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Họ quyền bình đẳng khi kết hôn, trong thời gian hồn thủ cũng như khi ly hôn.

b) Quyền của người đồng tính trong hôn nhân và gia đình: 

Quyền của người đồng tính trong hôn nhân gia đình được thể hiện chủ yếu qua một số quyền tiêu biểu như

Quyền kết hôn, lập gia đình

Khi hầu hết quan điểm của các quốc gia đều không thừa nhận quan hệ hôn nhân giữa những người cùng giới tính, thì 2 hình thức khác phát sinh nhằm đảm bảo quyền của người đồng tính đó chế định kết hợp dân sựsống chung như vợ chồng, cả 2 chế định y đều được coi như tiền đề của quy định về kết hôn của người đồng tính

Kết hợp dân sự chung sống đăng cho các cặp đôi cùng giới tính, một hình thức gn tương tự như hôn nhân, áp dng riêng cho các cặp đôi cùng giới. Các cặp đôi này đăng với quan nhà nước để hợp pháp hóa việc chung sống với nhau hưởng các quyền, nghĩa vụ tương tự như n nhân của các cặp khác giới

Sống chung như vợ chồng ng một chế định được tạo ra để mở rộng quyền cho các cặp chưa kết hôn, chưa đăng sống với nhau coi nhau như vợ chồng bao gồm (nhưng không nhất thiết giới hạn ) các cặp đồng giới. Quan hệ sống chung như vợ chồng thường hạn chế về quyền n so với chế định kết hợp dân sự

Quyền nuôi con nuôi nhận con nuôi

Quyền nuôi con là quyền tự nhiên của bất một cha mẹ nào, cha mẹ hoàn toàn quyền nuôi dưỡng chung sống với con cái của mình, không phụ thuộc vào giới tính, xu hướng tính dục của cha mẹ đó, cha mẹ chỉ thể bị cách ly với đứa trẻ khi việc cách ly cần thiết theo quy định quốc gia đó. Khác với quyền nuôi con nuôi nói chung, quyền nuôi con nuôi của người đồng tính nói riêng được coi quyền pháp định, chỉ được thừa nhận bởi quy định pháp luật của các quốc gia. Việc quy định về quyền nuôi con nuôi của người đng tính bị giới hạn bởi quy định của mỗi quốc gia khác nhau, bị nh hưởng bởi phong tục tập quán, truyền thống văn hoá hội, tôn giáo,... mỗi quốc gia đó. Điều này cho thấy, quyền ni con nuôi nói riêng không được coi quyền tự nhiên của con người chỉ được coi hợp pháp khi được công nhận và bảo vệ, Chỉ khi được pháp luật thừa nhận, người đồng tính mới có đầy đủ quyền khi nuôi con của mình không bị hạn chế so với các cá nhân khác

Người đng tính khi nhận con nuôi dưới cách cá nhân nhận nuôi con nuôi thì hầu hết đều thể nhận nuôi một cách bình thường theo pháp luật quốc gia, khu vực người đó sống. Tuy nhiên, đa số các cặp đôi đồng tính lại chưa thể tiếp cận các quyền này do những quan điểm về hôn nhân truyền thống, quy định pháp luật mỗi quốc gia, những lo ngại về ảnh hưởng tiêu cực của cặp đôi đồng tính gây ra đối với trẻ được nhận nuôi

thể thấy, tuy quy định các quyền của mọi nhân bình đẳng, không phân biệt giữa giới tính, xu hướng tính dục, nhưng trên thực tế các quyền này của người đồng tính nói riêng người LGBTI nói chung luôn bị hạn chế hơn so với các chủ thể khác trong hội; các quyền hết sức bình thường như kết hôn, nhận nuôi con lại trở thành ước, mong muốn của người đồng tính. Các quyền tiêu biểu này tính tương quan phụ thuộc ln nhau, sự tiến bộ bảo đảm quyền này chính điều kiện cho sự tiến bộ những quyền khác; sự vi phạm một quyền sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác. Chính vậy, để bảo đảm quyền của người đồng tính trong hôn nhân gia đình, cần bảo đảm một cách đồng bộ, tiến bộ tất cả các quyền của người đồng tính trong các quan hệ hôn nhân gia đình đó.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo