LGBT là gì? LGBT có mấy loại? Đặc điểm của nhóm LGBT?

LGBT là từ viết tắt của các chữ cái viết tắt của Lesbian (đồng tính luyến ái nữ), Gay (đồng tính luyến ái nam), Bisexual (song tính luyến ái), Transgender (Chuyển giới), thể hiện sự đa dạng về giới dựa trên xu hướng tính dục, bản dạng giới, thể hiện giới và thiên hướng tính dục.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6586

Số điện thoại Luật sư: 058.7999997

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Khái quát chung về nhóm người LGBT: 

Thuật ngữ LGBT bắt đầu được sử dụng từ những năm 1990°, tên viết tắt này được dùng để thay thế thuật ngữ Gay do sự xuất hiện, hoạt động quyền của những người đồng tính, song tính, liên giới tính. Những người hoạt động quyền của nhóm người LGBT tin rằng cụm từ Gay không đại diện chính xác bao gồm những người họ nói đến bảo vệ. LGBT thể hiện sự đa dạng về giới dựa trên xu hướng tính dục (sexual orientation), bản dạng giới (gender identity), thể hiện giới (gender expression) và thiên hướng tính dục (sexual attraction). Thuật ngữ LGBT từ viết tắt của các chữ cái viết tắt của Lesbian (đồng tính luyến ái nữ), Gay (đồng tính luyến ái nam), Bisexual (song tính luyến ái), Transgender (Chuyển giới)

Trước đây, hội từng coi những thuộc nhóm người LGBT lệch lạc tình dục, bệnh hoạncần chữa trị. Năm 1973, Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ (APA) đã đưa LGBT khỏi danh sách các bệnh tâm thầnxếp vào nhóm rối loạn định hướng tình dục. Năm 1983, APA chia những người LGBT tnh 2 nhóm: nhóm i lòng với chính mình nhóm không hài lòng với chính mình các nhà khoa học cho rằng thể chữa trị cho nhóm không hài lòng với chính mình để họ trở nên yêu người khác giới”. Năm 1990, APA đã đưa ra những bằng chứng khoa học khẳng định những liệu pháp chữa trị không tác dụng hại hơn lợi. Cũng năm 1990, Tổ chức Y tế Thế giới đã loại đồng tính ra khỏi danh ch bệnh tâm thần của loài người. Vì không phải bệnh nên y học không thể chữa trị không phải chữa trị cho họ nên hỗ trợ tâm để giúp họ sống tự tin và yêu đời. Từ đó thể khẳng định rằng nhóm người LGBT được sinh ra tồn tại một cách tự nhiên trong xã hội, giống như nam giới nữ giới, hkhông bị bệnh tình trạng này không nguyên nhân từ những suy nghĩ hay lối sống bệnh hoạn lệch lạc về tình dục. Như vậy, nhóm người LGBT trong phạm vi nghiên cứu của luận n bao gồm: người đồng tính nữ (Lesbian), người đồng tính nam (Gay), người song tính (Bisexual) và người chuyển giới (Transgender).

2. Một số khái niệm về nhóm người LGBT: 

Trong hội hiện nay, rất nhiều cách hiểu nhn diện về nhóm người LGBT. Một số quan điểm cho rằng những người thuộc nhóm LGBT những người bệnh tâm thần, trái với tự nhiên; tuy nhiên, cũng có những ý kiến bảo vệ người LGBT cho rng đó một điều hoàn toàn tự nhiên phản ánh sự đa dạng của hội... Trên góc độ khoa học để nghiên cứu tìm hiểu về nhóm người LGBT, trước hết cần tìm hiểu về những khái niệm sau

2.1. Giới tính: 

Giới tính khái niệm đề cập tới những đặc điểm về mặt sinh học của nam giới nữ giới?. Khi nói về giới tính nói về sự khác biệt giữa người đàn ông người đàn về mặt sinh học, được phân biệt qua cấu trúc bộ phận sinh dục, chức năng sinh sn và hooc môn sinh dục của nam hay nữ. Nói đến nam giới hay nữ giới nói đến giới tính của người đó. Giới tính tự nhiên, bẩm sinh đồng nhất (mọi người nam khắp nơi trên thế giới đều chức năng/quan sinh sản giống nhau; đối với mọi người nữ cũng vậy), kng thể thay đổi được (giữa nam nữ), do các yếu tố sinh học quyết định. Chúng ta sinh ra đàn ông hay đàn : chúng ta không thể lựa chọn không thể thay đổi được điều đó

Sự khác nhau y ngay từ lúc một con người được sinh ra (trừ trường hợp dị thường)

Cấu trúc của quan sinh dục sẽ quyết định chức năng sinh sản nam hoặc nữ. Ngược lại, chức năng sinh sản của nam hoặc nữ gắn liền bị chi phối bởi cấu trúc của quan sinh dục nam hoặc nữ không thể thay đổi. Sự khác biệt giới tính về chức năng sinh sản ràng nhất : phụ nữ kinh nguyệt, mang thai, tuyến sữa, thể cho con ...; nam giới việc tạo ra tinh trùng giúp phụ nữ thụ thai. Ngi những khác biệt ràng kể trên, về bản, những khác biệt giới tính khác được xem xét góc độ tổng thể chứ không phải biệt. dụ, xét chung về mặt thể chất, nam giới cao lớn khỏe hơn phụ nữ, nhưng biệt cũng phụ nữ cao lớn khỏe hơn một số nam giới

2.2. Giới: 

Giới theo nghĩa khái quát, khái niệm đề cập đến mối quan hệ giữa nam giới phụ nữ, các đặc tính được hội gắn cho từng người tùy theo họ nam hay nữ. Nói cách kc thì giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam nữ trong tất cả các mối quan hệ hội. Giới một khái niệm mang tính xã hội học chỉ sự khác biệt về mặt hội giữa nam giới phụ nữ như vai trò, thái độ, hành vi ứng xử các giá trị. Vai trò giới được biết đến thông qua quá trình học tập khác nhau theo từng nền văn hóa và thời gian, do vậy giới thể thay đổi được. Giới chịu sự chi phối, ảnh hưởng của văn hóa, nếp sống được hình thành trong cuộc sống do việc dạy dỗ, học tập, tiếp nhận kiến thức từ hội xung quanh của con người từ lúc còn nhỏ đến lúc trưởng thành. Từ những sự tác động ngoại cảnh dần tạo ra những chuẩn mực nhất định xã hội mong muốn, kỳ vọng về một giới nào đó

dụ: Phụ nữ cũng thể mạnh mẽ và quyết đoán, trở thành nh đạo, phi công, thợ máy... Ngược lại nam giới có thể dịu dàng kiên nhẫn, thể làm đầu bếp, nhân viên đánh máy, thư v.v. Những đặc điểm thể hoán đổi đó là những khái niệm, nếp nghĩ tiêu chuẩn mang tính chất hội. Chúng thay đổi từ nền văn hóa này sang nền n hóa khác trong một bối cảnh cụ thể của một xã hội, do các yếu tố hội, lịch sử, tôn giáo, kinh tế quyết định. vậy, mặc pháp luật nhiều quốc gia đã qui định mọi người bình đẳng trước pháp luật, song trên thực tế, địa vị của người phụ nữ phương Tây khác với địa vị của người phụ nữ phương Đông, địa vị hội của phnViệt Nam khác với địa vị hội của phụ nữ Hồi giáo, vị thế hội của phụ nữ nông thôn khác với vị thế hội của phụ nữ vùng thành thị do còn bị chi phối bởi các định kiến giới, các quan niệm truyền thống của văn hóa xã hội, của n tộc

Như vậy các đặc điểm của giới những yếu tố được xác định về mặt hội, văn hóa, được hình thành thông qua giáo dục, học tập, tính đa dạng, thể thay đổi theo thời gian, không gian, các điều kiện kinh tế hội; còn giới tính những yếu tố mang tính sinh học, tự nhiên, bẩm sinh, mang đồng nhất bất biến

2.3. Người đồng tính: 

Để hiểu về người đồng tính và người song tính cần dựa trên khái niệm xu hướng tính dục (một trong bốn yếu tố tạo nên tính dục)

Tính dục tổng thể con người, bao gồm mọi khía cạnh đc trưng của con trai hoặc con gái, đàn ông hoặc đàn biến động suốt đời. Tính dục phản ánh tính cách con người, không phải chỉ bản chất sinh dục. một biểu đạt tổng thể của nhân cách, tính dục liên quan tới yếu tố sinh học, tâm , hội, tinh thần văn hoá của đời sống. Những yếu tố này ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách mối quan hgiữa người với người tác động trở lại với hội. Tính dục khía cạnh văn hoá, hội nhân văn của tình dục

Xu hướng tính dục một trong những yếu tố cấu thành nên tính dục. Những yếu tố còn lại giới sinh học (cấu trúc gene, ngoại hình, nội tiết), bản sắc giới vai trò của giới

Theo định nghĩa của APA: Xu hướng tính dục một sự hấp dẫn tính bền vững về cảm xúc hoặc về mặt nh dục của một người về phía những người khác giới, cùng giới hoặc cả hai giới. Nói đến xu hướng tính dục người ta cũng i đến bản dạng tình dục cảm nhận của một người tự xác định về xu hướng tính dục của mình. Xu hướng tính dục bản thể kể đến xu hướng tính dục di tính, đồng tính song tính. Theo đó, người dị tính người chịu sự hấp dẫn (tính bền vững) về tình cảm, sự lãng mạn, trìu mến hấp dẫn về tình dục đối với người khác giới tính sinh học với mình. Người đồng tính người chịu sự hấp dẫn (tính bền vững) về tình cảm, sự lãng mạn, trìu mến hấp dẫn về tình dục đối với người cùng giới tính sinh học với mình. Người song tính là người chịu sự hấp dẫn (tính bền vững) về tình cảm, sự lãng mạn, trìu mến hấp dẫn về tình dục đối với cả người cùng khác giới tính sinh học với mình

Vậy người đồng tính (Homosexual): một người nam hoặc nữ, sự hấp dẫn về cảm xúc, tình cảm hoặc tình dục với người cùng giới tính với mình. Người đồng tính nam thường được gọi gay, người đồng tính nữ thường được gọi leshay lesbian. Người đồng tính thể hoàn thiện về mặt sinh học, ý thức ràng về giới tính của mình phù hợp với giới tính sinh học hiện của thể, nhưng họ xu hướng tính dục hướng tới người cùng giới tính với mình. Họ chỉ cảm thấy bị hấp dẫn, cảm xúc, tình cảm với người cùng giới tính với mình

2.4. Người song tính (Bisexual):

một người nam hoặc nữ, sự hấp dẫn về cảm xúc, tình cảm hoặc tình dục với cả hai giới nam nữ nhưnkhông nhất thiết cùng một lúc hoặc ngang bằng nhau. Song tính không phải một giai đoạn nhất thời hay đang chần chừ một xu hướng tính dục tự nhiên của con người.*

Cần phân biệt khái niệm người song tính với người lưỡng tính. Người lưỡng tính (Intersexual) một hiện tượng về giới tính, thường trong thể cả buồng trứng tinh hoàn. Đây thường những trường hợp rất hiếm trong cuộc sống. Trong khi đó, người song tính người đã phát triển hoàn thiện quan sinh dục trong thể nam giới hoặc nữ giới

2.5. Người chuyển giới (Transgender): 

Khác với người đồng tính hay song tính, để hiểu về người chuyển giới cần phải hiểu về thuật ngữ bản dạng giới. Bản dạng giới việc một người tự cảm nhận mình mang một giới tính nào đó (thể giống hoặc khác với giới tính sinh học khi được sinh ra). Bản dạng giới khái niệm chỉ việc một người nhận biết mình ai, cảm nhận mình ai, thể hiện nhận thức chủ quan của một người về giới tính của chính mình. Bản dạng giới của một người thể đồng nhất hoặc không đồng nhất với giới tính sinh học tự nhiên họ đang mang trên thể mình tkhi sinh ra. Khi một người cảm nhận, mong muốn mình mang giới tính khác với giới tính sinh học khi sinh ra thì đó người chuyển giới

Tương tự như xu hướng tính dục, bản dạng giới ng một trong bốn yếu tố của tính dục. Các xu hướng về bản dạng giới điều hoàn toàn tự nhiên trong hội. Do vậy, nếu một người nhận thức, mong muốn giới tính khác với giới tính khi sinh ra thì cũng là điều bình thường. Người chuyển giới thể lựa chọn việc thực hiện phẫu thuật chuyển đổi giới tính hoặc không phẫu thuật đều vẫn được coi người chuyển giới. Đối với những người thực hiện phẫu thuật 2 dạng : người chuyển giới từ nam sang nữ (male to female) người chuyển giới từ nữ sang nam (female to male). Sau khi đã phẫu thuật, người chuyển giới được gọi với một khái niệm đầy đủ hơn người chuyển đổi giới tính(transsexual). Đối với những người không thực hiện phẫu thuật, dưới góc độ xu hướng tính dục, thể phân chia thành người chuyển giới đồng nh (dụ người chuyển giới từ nam sang nữ chỉ yêu nữ giới), người chuyển giới song tính (dụ người chuyển giới từ nam sang nữ thể yêu cả nam giới nữ giới) người chuyển giới di tính (dụ người chuyển giới từ nữ sang nam chỉ yêu nữ giới)

Người đồng tính, song tính, chuyển giới không phải người bệnh tâm thần hay rối loạn nhân cách, vẫn phù hợp với sự phát triển bình thường của xã hội. Một điều quan trọng cần lưu ý tình dục đồng giới không phải hành vi thể tập nhiễm. Nghĩa tình dục đồng giới không phải hình thành do ảnh hưởng của môi trường hội, tập theo nh vi của người khác. vậy, không thể ép buộc, điều trị hoặc áp dụng liệu pháp tâm để xóa bỏ được xu hướng tính dc đồng giới, cũng như không thể làm một người xu hướng tính dục khác giới thành một người xu hướng tính dục đồng giới. Việc cố gắng điều trị nhằm làm thay đổi xu hướng tình dục không những không tác dụng còn những tác hại rất lớn.

3. Đặc điểm chung của nhóm nời LGBT: 

Trước hết cần khẳng định rằng, về mặt thể chất, những người thuộc nhóm LGBT cấu trúc quan sinh dục hoàn toàn bình thường, hoàn chỉnh, không sự sai lệch nào. Họ những người hoàn toàn khỏe mạnh về thể chất. Họ cũng khả năng tham gia vào các hot động hội, lao động, nghề nghiệp...đạt kết quả cao như tất cả những người khác trong cộng đồng

Điều làm cho họ sự khác biệt với những người khác là xu hướng tính dục bản dạng giới của họ. Sự khác biệt về xu hướng tính dục và bản dạng giới của họ được bộc lộ qua các hành vi bên ngoài còn gọi thể hiện giới các hành vi bên trong chính nội tâm, suy nghĩ của họ cách họ cảm nhận về giới tính của bản thân

Nhóm người LGBT những nhu cầu bản giống như tất cả mọi người trong hội như: ăn, mặc, , đi lại... Đối với những người đồng tính song tính không biểu hiện về hình dáng bên ngoài kc biệt so với người dị tính. Duy chỉ người chuyển giới thể dễ dàng nhận biết hơn thông qua hình dáng bên ngoài khi họ đã sự can thiệp để chuyển đổi giới tính hoặc khi họ thể hiện giới tính mong muốn của mình qua cách ăn mặc, cử chỉ, điệu bộ, giọng nói..

Tuy nhiên họ những điểm khác biệt về những hành vi bên trong cụ thể

Về nhận thức: Nhóm người LGBT nhận thức về bản dạng giới xu hướng tính dục khác biệt. Trong đó, người đồng tính nhận thức được bản dạng giới của mình trùng với giới tính sinh học nhưng họ cảm thấy cuốn hút hấp dẫn bởi những người cùng chung giới tính với họ. Người song tính nhận thức rằng mình bị cuốn hút hấp dn đối với cả những người cùng giới tính và khác giới tính với bản thân họ. Trong khi đó, người chuyển giới là người xu hướng cảm nhận thấy rằng giới tính thật sự của họ khác với giới tính sinh học họ đang mang. Điều này dẫn đến việc họ không hài lòng với thể sinh học hiện tại của mình và thường xu hướng sử dụng những biện pháp khoa học để can thiệp biến đổi thể sinh học của mình thành thể mang giới tính họ cảm thấy đó mới chính giới tính của họ

Về mặt tâm cảm xúc: Những người LGBT thường sống khép kín, chủ yếu che giấu bản thân, che giấu xu hướng tính dục của mình và luôn có tâm lo sợ bị người khác phát hiện. Đặc điểm tâm đc thù hluôn cảm thấy bị tổn thương, tủi thân, đau khổ khi bị hội người xung quanh kỳ thị hay những nhận định không thiện cảm về mình. Cảm thấy bị bất công bị đối xử không công bằng trong hội cảm thấy mình thật độc thiệt thòi khi thuộc vào thiểu số. Một số người thuộc nhóm người LGBT còn cảm thấy căm ghét bản thân khi nhận ra xu hướng tính dục của bản thân. Tuy nhiên, nếu nhận được sự đồng cảm, quan tâm từ phía gia đình hội thì nhóm người LGBT này sẽ dũng cảm thể hiện giới tính thật của mình (come out). Bởi tất cả họ cũng chỉ chung một nguyện vọng thể được sống chính mình được hội công nhận

Những người thuộc nhóm LGBT không phải bệnh: Hiện nay, khi chưa một kết luận khoa học nào kết luận nguyên nhân hình thành một xu hướng tính dục, rất nhiều ý kiến cho rằng xu hướng tình dục đồng giới phi tự nhiên hoc một rối loạn. Trong một thời gian dài, người ta đã tranh luận gay gắt với nhau vvấn đề liên quan đến liệu quan hệ đồng tính được coi lệch lạc, mang tính chất bệnh trong quá trình phát triển tình dục bình thường hay một phái sinh bình thường của tiềm năng đáp ứng tình dục của con người. Tuy nhiên, nếu xem xét về tiêu chí bản của một tình trạng bệnh lý tâm thần đó thường xuyên gây ra cảm giác bức bối hoặc thường xuyên gắn liền với mất mát về hiệu quả chức năng tương tác hội thì quan hệ tình dục đồng tính không thể xem như một rối loạn tâm bởi những người thuộc nhóm LGBT thể nói là thỏa mãn với xu hướng tính dục của mình không bị ảnh hưởng về hiệu quả hay hoạt động hội. Hiệp hội tâm học Hoa Kỳ (APA) nêu các dẫn chứng, nghiên cứu để đưa đến kết lun tính chất hiển nhiên về sự tồn tại của khuynh hướng tình dục đó nhằm loại bỏ đồng tính luyến ái ra khỏi các bệnh về rồi loạn tâm thần hướng dẫn hội giúp đỡ những người thuộc nhóm LGBT hòa nhập với cộng đồng hội để cách nhìn cảm thông hơn với những người này. APA đã loại đồng tính luyến ái ra khỏi danh sách các triệu chứng bệnh rối loạn tâm thần vào năm 1973. Tương tự đối với người chuyển giới, APA cũng chỉ ra rằng một tình trạng tâm chỉ bị coi rối loạn tâm khi gây ra những sự đau khổ, bất lực rệt. Nhiều người chuyển giới không trải qua những trải nghiệm đau khổ hay bất lực này. vậy, bản thân việc nhận ra mình một người thuộc nhóm người LGBT không phải một bệnh rối loạn tâm thần

Nhóm người LGBT chiếm tỉ lệ nhtrong hội nhóm dễ bị tổn thương. Theo báo cáo từ WHO thì khoảng 3% dân số thiên hướng tình dục đồng tính. Với tỷ lệ này sự khác biệt trong nhận thức về bản dạng giới xu hướng tính dục, nhóm người LGBT thể được xem nhóm người yếu thế trong hội. Họ bị coi như những thành phần “đi ngược lại với tự nhiênthường rơi vào tình trạng bị bạo hành, phân biệt đối xử, kỳ thị từ những người khác trong hội. Do đó, những người thuc nhóm LGBT thường xu hướng tham gia vào các nhóm đồng đẳng để tìm sự cảm thông, thấu hiu, đây họ thể hiện con người thật của mình cùng nhau lên tiếng bảo vệ, đòi hỏi quyền lợi chính đáng cho bản thân h

Nhóm LGBT chịu ảnh hưởng bởi quy định của pháp luật: Tùy vào quan điểm pháp luật của từng nước sự ảnh hưởng này tích cực hay tiêu cực. Đối với những quốc gia thừa nhận bảo hộ quyền HN&của nhóm LGBT thì cuc sống của họ gần như không sự khác biệt so với những người khác. Nhà nước chính sách riêng đối với họ nhằm xóa đi khong cách sự khác biệt của họ đối với cộng đồng, họ thoải mái thể hiện mình, họ không phải lo lắng những hạn chế về pháp thể xảy ra. Việt Nam, các hạn chế trong các quy định về quyền HN&đã khiến nhóm người 

LGBT không thể thực hiện các quyền theo đúng như mong muốn, con người của mình. Một cặp đồng tính không được pháp luật công nhận mối quan hệ kết hôn nếu như họ cùng chung giới tính. Những hạn chế này cũng khiến cho những người thuộc nhóm người LGBT còn hạn chế chưa come outthể hiện bản thân mình; đồng thời đối với những người đã come outgần như sống ngoài những quy định của pháp luật về HN&nếu như muốn sống đúng với bản thân mình. Điều này một phần cũng khiến cho những người thuộc nhóm LGBT khó hòa nhập hơn với hội.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo