Chế định hôn nhân trong Quốc triều Hình luật và Hoàng Việt luật lệ

Các quan hệ hôn nhân gia đình thể hiện rõ ràng cơ chế điều chỉnh của cổ luật hôn nhân gia đình, có khả năng loại trừ, ngăn chặn những hành vi vi phạm một cách có hiệu quả đồng thời bảo đảm cho các chế định về hôn nhân và gia đình được tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh trong thực tế.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6586

Số điện thoại Luật sư: 058.7999997

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Những mặt tích cực về chế định hôn nhân trong Quốc triều Hình luật và Hoàng Việt luật lệ:

* Trong nội dung chế định hôn nhân gia đình của QTHL HVLL

Thứ nhất, chế định hôn nhân gia đình trong QTHL HVLL đã giải quyết tốt mối quan hệ giữa pháp luật phong tục tập quán

Cả QTHL HVLL đều tương đồng về quan điểm này. Điển hình Điều 642 QTHL quy định: Việc không được phép làm làm thì việc lớn xử tội đồ hay lưu, việc nhỏ xử tội biếm hay phạp [37, tr.217] Điều 351 HVLL quy định: Phàm những việc không nên làm làm, thì phạt 40 roi. Sự việc nặng thì phạt 80 trượng (Luật không tội danh, việc phạm phải nặng nhẹ, đều phải lượng tình trị tội [36, tr.895]. Ta nên hiểu thế nào Việc không được phép làm hay những việc không nên làm. Đó những điều tục lệ, luân hội không cho phép làm. Như vậy, phạm vi áp dụng của Điều 642 QTHL Điều 351 HVLL thật quá rộng. chế tài của tất cả những điều của luân , tục lệ hội

Do điều kiện kinh tế chính nông nghiệp mang nặng tính tự cấp tự túc, Tính cố kết về quan hệ láng giềng kết hợp với quan hệ huyết thống trong làng chạ được ghi nhận trong lĩnh vực hương ước luật tục trong nhiều trường hợp kim chỉ nam để người dân ứng xử điều chỉnh các hành vi xử sự cụ thể trong hôn nhân gia đình. Pháp luật hôn nhân gia đình thời kỳ nhà nhà Nguyễn thừa nhận xem hương ước luật tục cũng một nguồn pháp luật để điều chỉnh các mối quan hệ về hôn nhân gia đình trong hội cổ xưa.

Đây những vấn đề luận, những bài học kinh nghiệm của cổ luật hôn nhân gia đình nhà nhà Nguyễn trong việc giải quyết hài hòa giữa phong tục pháp luật. Việc kế thừa phát huy những mặt tích cực của phong tục, luật tục, hương ước trong việc soạn thảo pháp luật hiện nay, để luật phù hợp với thực tế cuộc sống, đi vào cuộc sống giữ được các giá trị văn hóa truyền thống vấn đề hết sức cần thiết. 

Thứ hai, QTHL HVLL đều đề cao giá trị đạo đức truyền thống, bảo vệ sự ổn định hòa thuận trong gia đình

Trong những quy định về hôn nhân gia đình giá trị đạo đức luôn được QTHL HVLL quy định rất chặt chẽ thể hiện tưởng tiến bộ không những trong vấn đề kết hôn còn nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình. Các mối quan hệ giữa ông , cha mẹ con cái; giữa bậc tôn trưởng ấu ty; giữa các anh chị em trong gia đình, giữa vợ cả, vợ lẽ nàng hầu.... đều được 2 bộ luật này quy định cụ thể, chi tiết. Con cái phải hiếu thảo với cha mẹ, phải tôn kính bậc tôn trưởng trong gia đình. Các chuẩn mực đạo đức về ứng xử trong gia đình truyền thống đã được quy định thành pháp luật khiến bất cứ nhân nào đặt vào hoàn cảnh đó cũng khó làm trái với luân thường đạo . Thể hiện nét việc cổ luật cấm kết hôn giữa những người cùng huyết thống: Điều 319 QTHL minh thị: Người loại lấy , , chị em gái, kế nữ con riêng của vợ, người thân thích đều phỏng theo luật gian dâm trị tội. Tương tự, Điều 100 HVLL cũng quy định: Phàm người cùng một họ lấy nhau, thì (chủ hôn con trai, con gái) đều bị xử phạt 60 trượng, bắt phải li dị. Xuất phát từ truyền thống đạo đức gia đình Phương Đông nói chung Việt Nam nói riêng thì trong gia đình phải tôn ti trật tự, phải trên, dưới nên việc quy định này không những đảm bảo hôn nhân trong trong hội phong kiến vừa thể duy trì nòi giống, vừa đảm bảo những đứa trẻ sinh ra phát triển bình thường, khỏe mạnh không bị những dị tật bẩm sinh do cận huyết thống gây ra, trên sở đó bảo vệ gia đình truyền thống bằng luân đạo đức

QTHL HVLL đều quy định rất nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng giữa các thành viên trong gia đình, trong đó đặc biệt coi trọng nghĩa vụ của những người thuộc thế hệ sau đối với những người lớn tuổi. Cụ thể, Nghĩa vụ phải vâng lời dạy bảo, phụng dưỡng ông cha mẹ (quy định tại Điều 506 QTHL Điều 307 Hoàng Việt lệ); cho phép con, cháu được chịu tội thay cho ông cha mẹ bị phạt roi hay trượng (Điều 38 QTHL). Để duy trì sự thuận hiếu trong gia đình, giữ gìn đạo phong kiến trong hội, pháp luật phong kiến Việt Nam không cho phép con cháu tố cáo ông , cha mẹ (Điều 475, 476, 504 511 QTHL; Điều 298, Điều 306 HVLL). Nếu vi phạm sẽ phải chịu hình phạt nghiêm khắc. Đây những quy định mang đậm dấu ấn của tưởng Nho giáo. Điều này không những thể hiện truyền thống đạo đức trong gia đình ngày xưa của nước ta còn phản ánh tính giáo dục răn đe của pháp luật. Qua đó thể hiện QTHL HVLL đề cao hai chữ hiếu nghĩa, nếu người nào thuộc loại bất hiếu, bất nghĩa, bất nhân sẽ bị hội lên án pháp luật không dung tha

Trong quan hệ vợ chồng, một trong hai bên hành vi gây tổn hại đến bên kia cũng bị xử nghiêm minh (Điều 481 QTHL Điều 284 HVLL). Mặc sự chênh lệch về mức hình phạt giữa việc vợ đánh chồng chồng đánh vợ, tuy nhiên dưới chế độ phong kiến bảo vệ quyền của người gia trưởng thì điều này hoàn toàn dễ hiểu. Đây thể coi điểm tiến bộ trong hai Bộ luật QTHL HVLL đã phần nào đề cao sự bình đẳng của người vợ, mặt khác đề cao giá trị đạo đức truyền thống trong gia đình

Thứ ba, QTHL HVLL bước đầu thể hiện tính dân chủ sâu sắc, bảo vệ quyền bình đẳng giữa vợ chồng 

Lần đầu tiên trong pháp luật phong kiến thừa nhận quyền thuận tình ly hôn của vợ chồng. Cụ thể, Điều 108 HVLL quy định: Nếu vợ chồng không thể hòa hợp, thế tuyệt tình chứ không phải tuyệt nghĩa, mặc không điều bắt buộc phải ly dị làm cho hết ân nghĩa vợ chồng, họ thể được phép bỏ nhau không phạt tội. Đồng thời, Điều 108 HVLL còn quy định mang tính nhân đạo cao, phù hợp với đạo của dân tộc ta, đó hạn chế quyền tự do ly hôn của người chồng, trong trường hợp không được bỏ vợ vợ đã phạm phải một trong các trường hợp thất xuất nhưng lại được 3 điều không được bỏ (gọi tam bất khứ): 1) Khi người vợ đã để tang nhà chồng 3 năm; 2) Khi vợ chồng lấy nhau nghèo, về sau giàu ; 3) Khi vợ chồng lấy nhau, vợ còn con họ hàng, lúc bỏ nhau vợ không còn con nào để về

Ngoài ra, cả hai Bộ luật QTHL HVLL đều quy định trường hợp cho phép người vợ xin ly hôn. Cụ thể: QTHL quy định người vợ quyền trình quan xin ly hôn khi xảy ra một trong hai trường hợp: Chồng bỏ lửng vợ năm tháng không đi lại, nếu đã con thì 1 năm (Điều 308) hoặc chồng mắng nhiếc cha mẹ vợ một cách phi (Điều 333). HVLL thì quy định người vợ quyền bỏ chồng trong 5 trường hợp: chồng dung túng ép buộc vợ thông dâm với người khác, chồng bỏ trốn 3 năm không về; chồng đánh vợ đến mức bị thương, chồng cầm cố vợ con không tội bị bố mẹ chồng đánh trọng thương

Những quy định trên đã thể hiện sự tôn trọng bảo vệ quyền lợi của người vợ, người vợ quyền tự quyết định hôn nhân của mình quyền ly hôn trong một một số trường hợp chồng phạm lỗi. Cả hai bộ luật cũng đã thể hiện sự bình đẳng trong quan hệ giữa vợ chồng trong đó vợ chồng đều nghĩa vụ đối với nhau, đều sẽ bị áp dụng hình phạt nếu không thực hiện theo quy định của pháp luật

Bên cạnh đó, Điều 108 HVLL còn quy định: Phàm người vợ trong điều kiện không được bỏ đối với chồng chưa nghĩa tuyệt kẻ nào tự tiện bỏ vợ thì bị phạt đánh 80 trượng [36, tr.446]. Quy định này cho thấy cách nhìn nhận mới mẻ, tiến bộ của các nhà làm luật thời kỳ nhà nhà Nguyễn trong bối cảnh hội còn mang nặng tưởng trọng nam khinh nữ

Sau khi ly hôn người phụ nữ vẫn được đảm bảo về danh dự nhân phẩm. Nếu người phụ nữ tái hôn với người khác thì người chồng không được hành vi xâm phạm đến quyền lợi ích hợp pháp đó. Cụ thể, Điều 308 QTHL quy định: ... Nếu đã bỏ vợ lại ngăn cản người khác lấy vợ thì phải tội biếm. Từ quy định này ta thể thấy tưởng các nhà làm luật thời rất tiến bộ cho nên mới lường trước được trường hợp này bởi thực tế dưới hội phong kiến, coi trọng vị trí người gia trưởng nên với trường hợp người vợ ly hôn do lỗi của người chồng thì người chồng thường nảy sinh các quan điểm tiêu cực, thấy bị mất danh dự dễ dẫn tới việc nói xấu vợ , ngăn cản vợ lập gia đình

* Trong kỹ thuật lập pháp 

Thứ nhất, điểm tiến bộ lớn nhất về chế định hôn nhân gia đình của của hai Bộ luật này đã chú ý đến tính hệ thống trong nội dung các điều luật. Các nhà làm luật đã ghép tương đối hợp các điều gần nhau về tính chất vào một chương. Cụ thể: QTHL quy định các điều luật về Hôn nhân gia đình trong quyển III chương V: Hộ hôn, gồm 58 điều quy định về hộ tịch, hộ khẩu, hôn nhân gia đình các tội phạm trong lĩnh vực này. Bên cạnh đó HVLL cũng ghép các điều luật quy định về hôn nhân và gia đình vào quyền VII Chương III: Hôn nhân (Gồm 16 điều)

Thứ hai, Các quy phạm điều chỉnh quan hệ hôn nhân gia đình trong QTHL HVLL luôn đi cùng các chế tài cố định Đây điểm khác biệt so với các quy định pháp luật hiện hành các nước phương Đông, phương Tây. Hình phạt áp dụng cho hành vi vi phạm cũng rất đa dạng, thể xử đến tội chết (như giảo, chém) hoặc đánh roi, đánh trường hoặc lưu.... dụ, Điều 483 QTHL quy định

Vợ đánh chửi những bậc tôn trưởng nhà chồng từ hàng thân trở xuống, ty ma trở lên, thì xử nhẹ hơn tội đánh chồng một bậc (tội nhẹ thì nặng hơn tội đánh người thường một bậc). Vợ lẽ phạm tội trên, thì không được giảm, đánh chết thì đều xử giảo. Người vợ đánh bị thương những người hàng dưới thì phải tội như tội chồng phạm tội ấy, xử như người chồng. Đánh chết con cháu của anh em chồng thì phải lưu đi châu ngoài, cố ý giết thì xử tội giảo; vợ lẽ phạm những tội trên, thì xử như tội đánh nhau thường...

Với việc xác định ràng biện pháp chế tài áp dụng đối với chủ thể xâm phạm các quan hệ hôn nhân gia đình thể hiện ràng chế điều chỉnh của cổ luật hôn nhân gia đình, khả năng loại trừ, ngăn chặn những hành vi vi phạm một cách hiệu quả đồng thời bảo đảm cho các chế định về hôn nhân gia đình được tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh trong thực tế

Một số quy phạm pháp luật cách trình bày độc đáo, dễ hiểu. Đó cách diễn đạt quy phạm bằng việc tả những tình huống cụ thể. dụ Điều 104 HVLL quy định trường hợp cưới phụ nữ đang bỏ trốn

Phàm cưới phụ nữ phạm tội (đã bị phát giác với quan ti) đang bỏ trốn (bên ngoài) làm thê thiếp, nếu biết sự tình (đang bỏ trốn) thì xử tội giống như thế (giống như tội của kẻ bỏ trốn). Đến mức xử tử thì cho giảm một mức, bắt phải ly dị. Nếu không biết thì không bắt tội ... Chẳng hạn như người phụ nữ phạm tội bị xử phạt 100 trượng, nay bỏ trốn thì đáng xử nặng thêm hai mức, phạt 70 trượng, đồ 1 năm rưỡi. Biết sự tình vẫn lấy thì xử phạt 100 trường. Nguyên tội của phụ nữ nếu đến mức xử tử, thì người biết sự tình vẫn lấy được giảm đi một mức, xử phạt 100 trượng, lưu đày 3000 dặm, bắt phải li dị. Con gái thì trả về bản tông

Cách diễn đạt quy phạm pháp luật dưới hình thức này khiến cho các quy định phức tạp cũng thể được diễn đạt một cách đơn giản dưới hình thức tả. thế người dân có thể tiếp cận dễ dàng hơn, thể hiểu đúng tinh thần của điều luật

2. Một số hạn chế mang tính lịch sử trong các quy định pháp luật hôn nhân gia đình trong QTHL và HVLL: 

Trên sở bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị tiêu biểu quyền lợi của nhà vua triều đình, với sự chi phối của hệ tưởng Nho giáo, trong đó duy trì quan hệ đẳng cấp, sự bất bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình, bảo vệ quyền lợi người gia trưởng nên các quy định trong cổ luật không thể tách rời khỏi các điều kiện lịch sử. Trong điều kiện lịch sử lúc bấy giờ, thời kỳ trị của triều đại nhà nhà Nguyễn những quy định này lại phù hợp với các chuẩn mực đạo đức của hội, phù hợp với phong tục tập quán đã từng tồn tại được ưa chuộng của quần chúng nhân dân. Do đó việc đánh giá các quy định của cổ luật cần được xem xét trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể, trong sự tương quan với các văn bản pháp luật khác cùng thời đại. Tuy nhiên, xét một góc độ tương đối, lấy quy chuẩn của những quan điểm pháp chung, thể liệt một số hạn chế mang tính lịch sử trong nội dung chế định hôn nhân gia đình của QTHL HVLL

Thứ nhất, QTHL HVLL những quy định mang nặng đạo đức luân của gia tộc

Trong cả 2 Bộ luật QTHL HVLL vấn đề hôn nhân do cha mẹ quyết định, nếu cha mẹ đã chết thì do bậc tôn trưởng quyết định, loại trừ sự tự do nhân của hai bên nam nữ (Quy định tại Điều 314 QTHL Điều 94 HVLL). Quy định này với mục đích bảo vệ gia đình gia trưởng phong kiến

Đồng thời, quy định cấm kết hôn trong các trường hợp vi phạm hiếu nghĩa: Cấm kết hôn khi đang tang cha, mẹ hoặc tang chồng (Điều 317 QTHL Điều 98 HVLL), Cấm kết hôn khi ông , cha mẹ bị giam cầm tội (Điều 318 QTHL Điều 99 HVLL). Ta thể thấy từ thời đến triều Nguyễn vẫn quy định cấm kết hôn trong những trường hợp này, thể hiện tưởng con cháu trong gia đình phải làm tròn chữ hiếu trước tiên, việc cưới hỏi của bản thân phải gác lại nếu nhà đang tang ông cha mẹ hay thậm chí là ông cha mẹ đang đi . Hiện nay pháp luật nước ta không còn các quy định tương tự như vậy, tuy nhiên theo tục lệ một vài địa phương vẫn còn xảy ra các trường hợp Cưới chạy tang

Thứ hai, QTHL HVLL đều bảo vệ quyền gia trưởng trong gia đình

Với sự chi phối của tưởng Nho giáo, pháp luật hôn nhân gia đình dưới thời Hậu thời Nguyễn đều xu hướng thiên về bảo vệ quyền lợi của người chồng, người gia trưởng. Sự bất bình đẳng được thể hiện qua các nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng, cũng như tội phạm do vi phạm nghĩa vụ này được hai bộ luật đặt ra khá chặt chẽ song phần lớn đặt ra với người vợ. Cụ thể: Nghĩa vụ chung thủy chỉ được đặt ra với người vợ chứ không đặt ra với người chồng bởi hội phong kiến cho phép người chồng lấy nhiều vợ (Điều 401 QTHL Điều 332 HVLL). Tiếp đến nghĩa vụ tòng phu được thể hiện qua việc người vợ không được đánh chồng, không được tố cáo chồng phải tôn trọng mọi quyết định của chồng (Điều 481, 504 QTHL Điều 284, 289, 290 HVLL). Hình phạt cho các trường hợp người vợ không tuân theo những nghĩa vụ trên rất khắc. dụ: Điều 332 HVLL quy định phạt người vợ thông gian gian phu 100 trượng, cho chồng được quyền tùy ý gả bán vợ cho người khác. Hoặc cùng với một hành vi phạm tội nhưng hình phạt giữa vợ chồng khác nhau, người vợ sẽ bị áp dụng hình phạt nặng hơn. dụ: Vợ đánh chồng thì xử lưu đi châu ngoài, đánh bị thương, què gãy thì lưu đi châu sa, điền sản trả lại cho chồng. (Điều 481 QTHL). Tuy nhiên: Chồng đánh vợ bị thương thì xử nhẹ hơn tội đánh người thường bị thương ba bậc, nếu đánh chết thì xử nhẹ hơn tội đánh giết người ba bậc

Một điểm nữa thể hiện sự bất bình đẳng giữa vợ chồng khi người vợ phải để tang chồng trong thời gian 3 năm, bằng thời gian để tang cha mẹ, với những quy định rất khắt khe, chặt chẽ về trang phục, về cách xử sự... trong suốt thời gian đó. Tuy nhiên, trong trường hợp người vợ chết trước thì pháp luật không hề quy định để tang vợ của người chồng

Thứ ba, một số hạn chế về kỹ thuật lập pháp

Nhà làm luật triều triều Nguyễn đã gộp tất cả các quan hệ hôn nhân gia đình cũng như các quan hệ dân sự vào trong bộ luật hình sự áp dụng cho tất cả các quan hệ chế tài hình sự khi vi phạm. Việc áp dụng chế tài hình sự để xử các quan hệ hôn nhân gia đình trong trường hợp vi phạm là không phù hợp song mặt khác tác động đến bảo đảm hiệu lực của luật

Các quy định về hôn nhân gia đình còn nằm rải rác trong các chương khác nhau của bộ luật không tập trung vào một phần hoặc một chương riêng nên tính pháp điển hóa không cao

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo