Chế định hôn nhân gia đình trong Quốc triều hình luật, Hoàng Việt luật lệ

Hôn nhân và gia đình – đó là những hiện tượng xã hội mà luôn luôn được các nhà triết học, xã hội học, sử học, luật học ... nghiên cứu. Hôn nhân là cơ sở của gia đình, gia đình là tế bào của xã hội, trong đó là sự kết hợp chặt chẽ, hài hòa lợi ích của mỗi công dân, Nhà nước và xã hội.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6586

Số điện thoại Luật sư: 058.7999997

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Khái niệm chế định hôn nhân gia đình trong Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ: 

Hôn nhân gia đình đó những hiện tượng hội luôn luôn được các nhà triết học, hội học, sử học, luật học ... nghiên cứu. Hôn nhân cơ sở của gia đình, còn gia đình tế bào của hội trong đó kết hợp chặt chẽ, hài hòa lợi ích của mỗi công dân, Nhà nước hội

C.Mác Ph.Ăngghen đã chứng minh một cách khoa học rằng hôn nhân gia đình những phạm trù phát triển theo lịch sử, rằng giữa chế độ kinh tế hội tổ chức gia đình mối liên quan trực tiếp chặt chẽ. Trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ hữu của Nhà nước(1884) Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh rằng chế độ gia đình trong hội phụ thuộc vào quan hệ sở hữu thống trị trong hội đó bước chuyển từ hình thái gia đình này lên một hình thái gia đình khác cao hơn suy cho cùng được quyết định bởi những thay đổi trong điều kiện vật chất của đời sống hội

Trước hết, hôn nhân hiện tượng hội sự liên kết giữa đàn ông đàn . Trong hội giai cấp hôn nhân mang tính giai cấp. Mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, giai cấp thống trị bằng pháp luật điều chỉnh các quan hệ hôn nhân cho phù hợp với ý chí, nguyện vọng của mình, phục vụ cho lợi ích giai cấp của mình. hội nào thì hình thái hôn nhân đó, tương ứng với chế độ hôn nhân nhất định. hội phong kiến hôn nhân phong kiến, hội bản hôn nhân sản, hội chủ nghĩa hôn nhân hội chủ nghĩa

Khái niệm gia đình rộng hơn khái niệm hôn nhân. Hôn nhân mối quan hệ giữa nam nữ, giữa vợ chồng, tiền đề để xây dựng gia đình. hội loài người đã trải qua nhiều hình thái gia đình khác nhau. Gia đình sản phẩm của hội, đã phát sinh phát triển cùng với sự phát triển của hội. Các điều kiện kinh tế hội trong từng giai đoạn phát triển nhất định phản ánh tính chất gia đình. Do vậy, gia đình hình ảnh thu hẹp của hội, tế bào của hội. Trong mỗi hình thái kinh tế hội khác nhau tính chất kết cấu của gia đình cũng khác nhau

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: Hạt nhân của hội gia đình. Nếu con người xét đến cùng sản phẩm của hội thì trước hết con người được sinh ra, nuôi dạy lớn lên trong một gia đình. Chính những thói quen ứng xử trong sinh hoạt hàng ngày trong các mối quan hệ hội khác đã tác động tới nhận thức hình thành nhân cách của thành viên trong gia đình

Trên bình diện pháp , khái niệm gia đình tức các quan hệ giữa các thành viên trong gia đình (trong đó bao gồm các nghĩa vụ quyền của mỗi bên). Mỗi mối quan hệ đều gồm các quan hệ nhân thân và các quan hệ tài sản. Gia đình trong chế độ phong kiến gia đình gia trưởng phụ hệ, đó quyền định đoạt tài sản gia đình thuộc về người gia trưởng (chồng, cha, mẹ) còn các thành viên khác (người vợ, con cái) khi còn đang chung với cha mẹ, đều không quyền này, bất kể họ còn con đẻ hay đã trưởng thành. Đó tập quán lâu đời, bền vững hầu như không được quy định trong luật pháp

Chế định hôn nhân gia đình theo góc độ pháp bao gồm tất cả các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ hội về hôn nhân gia đình, thể hiện bản chất chính trị hội của quốc gia trong việc thực hiện quản nhà nước về hôn nhân gia đình. Trong QTHL triều HVLL triều Nguyễn chưa khái niệm cụ thể về chế định hôn nhân gia đình. Tuy nhiên, ta thể hiểu, pháp luật hôn nhân gia đình thời kỳ nhà , nhà Nguyễn hệ thống những quy tắc xử sự do nhà nước của thời kỳ này ban hành hoặc thừa nhận đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị nhằm điều chỉnh các quan hệ hội phát sinh trong lĩnh vực hôn nhân gia đình

2. Đặc điểm của chế định hôn nhân gia đình trongQuốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ

Như đã phân tích phần trên, chế định hôn nhân gia đình được hiểu một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật. tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ hôn nhân gia đình

Tuy nhiên Việt Nam trong các triều đại phong kiến, chế định hôn nhân gia đình được hình thành dựa trên sở lễ giáo phong kiến. Các quy định về hôn nhân gia đình dưới thời , thời Nguyễn nhằm mục đích duy trì, bảo vệ truyền thống chế độ gia đình phụ quyền hiếu nghĩa của con cháu trong dòng tộc. vậy, pháp luật về hôn nhân gia đình thời kỳ nhà nhà Nguyễn được thể hiện qua QTHL HVLL những đặc điểm riêng biệt sau:

a. Chịu sự chi phối sâu sắc của hệ tư tưởng Nho giáo: 

tưởng chính trị Nho giáo được đề cao trong hội phong kiến Việt Nam tưởng chính trị phong kiến, nhằm mục đích thiết lập trật tự gia đình hội phong kiến. Theo quan niệm của Khổng Tử, gia đình từ ngàn xưa đã được coi nền tảng của hội. Gia đình vững mạnh, nền tảng tắc mới ổn định. vậy, sự quy định về gia đình liên quan mật thiết đến quyền lợi của Quốc gia. Trong giáo của Khổng Tử, luân gia đình chủ đề chính. Theo Khổng Tử, con người năm mối quan hệ bản nhất đó : quân thần (vua tôi), phụ tử (cha con), phu phụ (vợ – chồng), huynh đệ (anh em), bằng hữu (bạn ), trong đó ba mối quan hệ gắn trực tiếp đến gia đình. Do đó, trật tự hội phong kiến lấy gia đình làm trung tâm (đạo tế). Các quy tắc xử sự mang tính pháp nhằm xác lập bảo vệ trật tự gia đình phong kiến rất được chú trọng, những vi phạm đạo đức, lễ nghi nho giáo trong lĩnh vực hôn nhân gia đình bị trừng phạt rất nặng

Xuất phát từ quan niệm hôn nhân tạo lập gia đình, gia đình nền tảng của hội, cho nên trong QTHL cũng như trong HVLL đều dành hẳn một chương quy định về hôn nhân gia đình

QTHL quy định các điều luật về Hôn nhân gia đình trong quyển III chương V: Hộ hôn, gồm có 58 điều quy định về hộ tịch, hộ khẩu, hôn nhân gia đình các tội phạm trong lĩnh vực này. HVLL cũng dành hẳn một chương Hôn nhân gồm 16 điều luật 17 điều lệ đi kèm quy định về hôn nhân gia đình. Mục đích của việc điều chỉnh vấn đề hôn nhân gia đình này nhằm bảo vệ chế độ tông pháp nho giáo. Những chuẩn mực đạo đức ấy tập trung vào các mối quan hệ bản về kết hôn, li hôn, quan hệ nhân thân quan hệ tài sản giữa vợ chồng, giữa cha mẹ con cái nhằm bảo vệ chế độ tông pháp cũng bảo vệ thuần phong mỹ tục của dân tộc theo quan điểm của giai cấp thống trị

QTHL HVLL đều cho phép người trong gia đình được che chở lẫn nhau, con cái nghĩa vụ không được kiện cáo ông cha mẹ. Nếu con cháu rủa mắng ông cha mẹ, trái lời cha mẹ dạy bảo thì bị khép vào tội bất hiếu tức phạm vào thập ác đó đạo hiếu truyền thống của người việt. Điều 506 QTHL quy định: Con cháu trái lời dạy bảo, không phụng dưỡng bề trên, bị ông cha mẹ trình lên quan, thì xử tội đồ làm khao đinh, con nuôi, con kế tự thất hiếu với cha nuôi, cha kế thì xử giảm tội trên một bậc. Theo Điều 475, ông cha mẹ không thưa quan nhưng nếu con cháu lăng mạ ông cha mẹ thì xử tội lưu ngoài châu thành đánh thì xử lưu châu xa, đánh bị thương thì xử tội giảo. Điều 307 HVLL cũng quy định: Nếu phụng dưỡng cố ý làm thiếu sót xử phạt 100 trượng lưu 3000 dặm...

Trong cả hai bộ luật, các quy tắc ứng xử theo lễ nghi Nho giáo được pháp luật xác nhận, bảo vệ mang tính pháp định. Trên sở các nguyên tắc xử sự đó, hình phạt (nghiêm khắc) được xác định tương ứng với các vi phạm. vậy, pháp luật về hôn nhân gia đình quy định trong QTHL HVLL đều được trình bày dưới dạng các quy phạm pháp luật hình sự.

b. Hôn nhân không tự do: 

Ngày nay, chúng ta đánh giá hôn nhân trong chế độ phong kiến hôn nhân không tự do. Đó chúng ta đứng về phía hai bên nam nữ, với quan niệm đề cao bảo vệ cái tôi nhânđể đánh giá. Hôn nhân hiện đại (cần ) sự ưng thuận của hai bên nam nữ. Tuy nhiên, lễ nghi nho giáo lại quy định rất chặt chẽ điều kiện bắt buộc phải sự ưng thuận của các bậc tôn trưởng trong việc giao kết hôn nhân. Hôn nhân nhất thiết phải có được sự ưng thuận của hai bên, nhưng hai bên gia đình chứ không phải hai bên nam nữ (đối ngẫu)

Theo quan niệm nho giáo thì hôn nhân sự kết hợp giữa hai dòng họ, mà mục đích quan trọng nhất của nhằm đáp ứng các quyền lợi lâu dài của dòng họ thông qua việc sinh con cái để duy trì dòng giống, lưu truyền việc thờ phụng tổ tiên. Chính vậy các cuộc hôn nhân thường do cha mẹ hoặc các bậc bề trên lớn tuổi trong dòng họ sắp đặt, không chú ý đến sự lựa chọn, ưng thuận của hai bên nam nữ. Do vậy pháp luật phong kiến quy định rằng chỉ hôn nhân do cha mẹ sắp đặt mới giá trị. Các bộ QTHL HVLL đều quy định việc kết hôn chỉ được thực hiện khi cha mẹ hoặc một người tôn thuộc đứng đầu làm chủ hôn. Tuy nhiên pháp luật cũng quy định hai trường hợp biệt lệ chú trọng đến sự ưng thuận của hai bên kết hôn: đó trường hợp việc kết hôn do hai bên nam nữ quyết định họ chỉ còn con xa hoặc trong trường hợp họ xa nhà.

c. Giao ước kết hôn: 

Điểm khác biệt giữa hình thức pháp của hôn nhân dưới chế độ phong kiến so với hiện nay lễ hỏi lễ cưới hình thức tổ chức cưới gả được thừa nhận. Việc cưới hỏi hoàn toàn do tôn trưởng quyết định. Tuy nhiên, một đặc thù liên quan đến giá trị pháp của hôn nhân sự đính hôn (hứa gả). Theo chế độ gia trưởng, hứa gả sự ưng thuận của cha mẹ, các bậc tôn trưởng. Hứa gả tính chất trói buộc đôi bên. Theo quan niệm nho giáo, pháp luật đặc biệt coi trọng chữ tín, do đó việc bội ước, bội hôn bị coi hành vi phạm pháp. Cụ thể: Nếu nhà trai đã nạp sính lễ rồi không làm lễ cưới nữa thì phải phạt 80 trượng mất đồ sính lễ; nếu nhà gái hối hôn, đổi ý không muốn gả nữa thì phạt 80 trường ... (Điều 315 QTHL).

d. Duy trì và bảo vệ chế độ đa thê: 

khích chế độ đa thể để gia đình nhiều con cháu. QTHL HVLL đều quy định về thứ bậc thê thiếp, nếu ai làm trái đều bị xử phạt. Thứ bậc ấy được xác lập giữa người vợ cả (chính thất), vợ lẽ (thứ thất) và nàng hầu (thiếp). Mặc khuyến khích chế độ đa thể song mỗi người đàn ông chỉ quyền lấy một vợ cả, những người lấy sau chỉ được làm vợ lẽ hoặc thiếp. Trừ trường hợp vợ cả chết thì mới được lấy vợ khác làm vợ chính, gọi kế thất. Nếu vợ cả còn sống lấy vợ khác làm chính thất thì hôn nhân bị coi hiệu. Trật tự giữa vợ cả, vợ lẽ với nàng hầu không thể thay đổi. Điều này không những được điều chỉnh bằng pháp luật còn điều chỉnh bằng cả phong tục, tập quán. Đây biện pháp để giữ vững kỷ cương, trật tự gia đình, nền tảng vững chắc để duy trì sự hòa thuận trong gia đình

3. Vai trò của chế định hôn nhân gia đình trong Quốc triều hình luật và Hoàng Việt luật lệ: 

Pháp luật một bộ phận thuộc kiến trúc thượng tầng của hội. Các bộ luật của nhà nước phong kiến ra đời trên sở kinh tế kết cấu giai tầng của hội này. thế: 

công cụ trong tay giai cấp phong kiến thống trị, pháp luật ý chí của giai cấp địa chủ phong kiến được nâng lên thành luật pháp mà nội dung của ý chí đó được quy định bởi điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp phong kiến. Pháp luật phong kiến phương tiện để bảo vệ trật tự hội phong kiến trước hết bảo vệ quan hệ sản xuất phong kiến

QTHL HVLL hai bộ luật phong kiến nên điều hiển nhiên bộ luật bảo vệ chế độ phong kiến. Nói tới luật pháp phong kiến trước hết phải nói tới vai trò tuyệt đối của Hoàng đế. Điều này cũng được thể hiện chế định hôn nhân gia đình trong QTHL HVLL

Cụ thể: QTHL HVLL bảo vệ chế độ gia tộc phụ quyền các nguyên tắc đạo đức phong kiến, củng cố trật tự hội, củng cố sở hội cho chế độ phong kiến tồn tại phát triển. Trên sở đề cao hệ tưởng Nho giáo, hai bộ luật này đã mặc nhiên thừa nhận những quyền nghĩa vụ vợ chồng do Nho giáo tục lệ đặt ra nhằm mục đích bảo vệ tuyệt đối chế độ gia tộc phụ quyền. Bao gồm: thiên về quyền lợi pháp người chồng, bảo vệ về quyền lợi của người chồng với cách người gia trưởng. Đồng thời, quy định khắt khe về nghĩa vụ của người vợ như: Nghĩa vụ chung sống (đồng ); nghĩa vụ tòng phu; nghĩa vụ chung thủy, nghĩa vụ để tang … . Người vợ phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ chăm sóc các thành viên trong gia đình chồng. Nếu người vợ không thực hiện đúng sẽ bị pháp luật trừng trị bằng nhiều hình phạt khắt khe như bị ly dị, xử tội lưu đày, giảo hình nặng nề (Quy định cụ thể tại các điều luật: Điều 144146 (thất xuất); 321; 331; 401; 476; 481 QTHL Điều 108; 284; 289; 290; 332, Khoản 2 Điều 2 HVLL). ràng, gia đình phụ quyền gia trưởng hạt nhân, nền tảng của hội phong kiến, được nhà nước bảo vệ với nhiều đặc quyền của người đàn ông. Thực chất đây cũng chính một phương thức để củng cố chế độ phong kiến tập quyền ngày càng cao của nhà Hậu , nhà Nguyễn.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo