Sự hình thành và phát triển công lý, lẽ công bằng ở Việt Nam

Với ý nghĩa là nền tảng của sự tôn trọng công lí, lẽ phải, lòng khoan dung, độ lượng, vị tha, nhân đạo cũng là phẩm chất và một trong những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, có ảnh hưởng đến cách thức cầm quyền qua các thời đại từ phong kiến đến hiện đại.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6586

Số điện thoại Luật sư: 058.7999997

Email: luatsu@luatduonggia.vn

Từ thực tiễn qtrình dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước, phát triển kinh tế hội, người Việt Nam phải chng chọi với thiên tai, dịch họa, trong điều kiện đó con người đã gắn bó, liên kết với nhau trong cộng đồng, sự gắn với quê hương hình thành tinh thần yêu quê hương đất nước, yêu thương con người. Những tình cảm đó cội nguồn hình thành tưởng, ý thức dân tộc, một nền công đề cao chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo, đề cao chính nghĩa đạo , bảo vệ công cũng một giá trị truyền thống dân tộc. Đạo lẽ phải, chính nghĩacũng điều phải, tức đứng về lẽ phải, tranh đấu cho lẽ phải đu tranh cho công . Trong quan niệm của người Việt, sự xâm lăng, thù hận, trả thù, hay báo thù, ... cái xấu, cái ác; sự tôn trọng, hòa hợp cuộc sống hạnh phúc, đạo , cái tốt, cái đẹp, công . Điều này đã minh chứng bằng lịch sử dân tộc Việt Nam, được khái quát thành đánh kẻ chạy đi, chứ không đánh kẻ chạy lại, khép lại quá khứ, hướng tới tương lai

Ngay từ buổi hồng hoang, trong truyền thuyết lịch sđã một số sự tích nói lên skhát vọng tự do, bình đẳng của con người như: sự tích về Tiên Dung Chử Đồng Tử đã phản ánh khát vọng về sự tự do, bình đẳng về tình yêu luyến ái không phân biệt giàu nghèo, hèn, sang, đây chính là tưởng về công bằng, bình đẳng, công nhằm chống lại sự khắc của chế độ phong kiến của lễ giáo phong kiến, tưởng nho giáo môn đăng hậu đối; hay truyện Thch Sanh, nhân vật Thông Thạch Sanh hai nhân vật đại diện cho ác, thiện, kết cục ác gặp họa, thiện gặp lành, âu cũng thể hiện tưởng về công ác giả, ác báo, hiền gặp lành. tưởng về thiệnácthước đo để đánh giá công trong nhận thức của người Việt, ông cha ta cũng rạch ròi giữa thiện ác, giữa kẻ đi xâm lược người dân nước đi xâm lược. Bên cạnh đó tinh thn khoan dung, độ lượng, vị tha, nhân đạo là nền tảng của công , công bằng trong truyền thống văn hóa Việt Nam. Với ý nghĩa nền tảng của sự tôn trọng công , lẽ phải, lòng khoan dung, độ lượng, vị tha, nhân đạo cũng phẩm chất một trong những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, ảnh hưởng đến cách thức cầm quyền qua c thời đại

tưởng về công , công bằng được thể hiện trong lịch sử Việt Nam qua tất cả các giai đoạn phát triển, cụ thể nhất là trong pháp luật của các triều đại phong kiến. Mặc pháp luật phong kiến Việt Nam cũng như pháp luật phong kiến các quốc gia khác đều không thoát khỏi những hạn chế lịch sử của , pháp luật phong kiến pháp luật quả đấm, các quy định đều được ghi nhận vào một luật chung cho nhà vua ban hành, chứ không chia ra nhiều ngành luật như hiện nay, nhưng các triều đại phong kiến Việt Nam đã để lại cho đời sau một di sản pháp luật klớn với nhiều giá trị tư tưởng ý nghĩa thời đại. hội phong kiến hội phân theo đẳng cấp, do vậy công trong hội phong kiến được chia thành hai bộ phận (công lí của kẻ mạnh kẻ cai trị công của kẻ yếu). vậy, khái niệm về công bằng không tồn tại giai đoạn này. Công phụ thuộc vào đẳng cấp hội quan thì sử theo lễ, dân sử theo luật, con kiến kiện củ khoai. Điều này phản ánh một hiện thực hội công lí không đến được thứ dân. Tuy vậy, trong từng chặng đường, trong pháp luật phong kiến Việt Nam vẫn thể tìm thấy những tưởng công những mức độ biểu hiện ít, nhiều nhất định

1. Công lý, lẽ công bằng trong pháp luật thời phong kiến:

Triều đình nhà Đinh nhà nước phong kiến độc lập, một mặt đấu tranh để bảo vệ nền độc lập đất nước, nhưng áp dụng hình phạt rất khắc nhằm răn đe, trừng phạt lực lượng chống đối lại nhà Đinh, đồng thời cũng để bảo vệ ngai vàng của chế độ phong kiến 

Nvậy, thể thấy rằng trong chế độ phong kiến thời này, công được thiết lập trên sở hình phạt, phạm tội thì phải chịu hình phạt khắc, tàn bạo, đó công của những người cai trị, công không đến thường dân, chế độ đó khắc

Chịu ảnh hưởng của tưởng Phật giáo Nho giáo, tưởng về công trong pháp luật thời nhà Trần Hồ này đã những thay đổi, trong một chừng mực nào đó thể hiện được sự công bằng hội hơn thời Đinh, Tiền . Điều này được thể hiện qua quy định khi: chọn cấm quân, phải chọn những hộ lớn, không được lấy người độc, ai làm trái sẽ bị trị tội, quan lại thu thuế của nhân dân, ngoài mười phn đóng vào kho Nnước, được thu riêng một phần, gọi hoành đầu. Kẻ nào thu quá số y thì bị khép vào tội ăn trộm. Bên cạnh đó, để tạo điều kiện cho người dân tiếp cận công , nói theo ngôn ngữ ngày nay, nhà cho đặt lầu chuông điện Long Trì để n chúng ai khiếu kiện, oan ức thì đánh chuông. Quy định này như một điều kiện, tiền đề, con đường để hướng tới công , qua sự phán quyết của triều đình đối với những khiếu kiện của dân đối với những oan ức của dân, do quan lại địa phương gây nên. Đây sự tiến bộ trong lịch sử nhà nước phong kiến Việt Nam, như mầm mống đầu tiên của chế độ tài phánhành chính

Để bảo đảm công , giải quyết những tranh chấp trong đời sống dân sự, bên cạnh quy định về hình phạt, nhà vua còn quy định biện pháp hoàn trả tài sản. dụ: năm 1142, Anh Tông xuống chiếu: nếu tranh nhau ruộng ao, lấy đồ binh khí nhọn đánh chết hay làm bị thương người, thì đánh 80 trượng, xử tội đồ, đem ruộng ao ấy trả cho người chết hay bị thương. Cái công đây thể hiện tưởng không thể ức hiếpngười yếu thế trong xã 

hội, lấy của phải trả lại của. Những quy định này trong một chừng mực nhất định thhiện tính nhân đạo của . Nhưng, trong những quy định này cũng nhận thấy rằng: công được thiết lập trên sở sự không bình đẳng giữa người giàu kẻ nghèo, chỉ những người giàu trong hội mới tiền để chuộc tội, còn n nghèo không khả năng đó, cũng có nghĩa không thể tiếp cận công theo quy định của pháp luật trong thực tiễn

Dưới triều Trần, hai bộ luật được ban hành, dưới đời Trần Thái Tông đã soạn Quốc Triều thống chế (hay tên gọi khác Quốc triều nh luật), đến tháng 9 năm 1341, vua Trn Dụ Tông sai Trương Hán Siêu Nguyễn Trung Ngạn soạn bộ Hoàng Triều đại điển khảo soạn Bộ Hình Thư để bạn hành, nhưng cả hai bộ luật y đã bị thất truyền vào thế kỉ XVIII

Bản Quốc triều Hình luậtnhà (1428 1789) bản hình lut cổ nhất được giữ lại cho đến ngày nay đã được các vua thời mặt bổ sung ít nhiều, ban hành năm 1777 (Cảnh Hưng thứ 38). Quốc triều hình luật thực chất bộ tổng luật, phạm vi điều chỉnh rất rộng, bao gồm mọi lĩnh vực trong đời sống nhà nước, hội, cả lĩnh vực hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, tổ chức bộ máy nhà nước, quan chế, cả lĩnh vực pháp luật vật chất pháp luật thủ tục. Quốc triều hình luật bao gồm 6 quyển, 722 điều: Quyển 1 2 chương: Danh lệ (49 điều), Cấm vệ (47 điều); Quyển 2 2 chương: Vi chế (144 điều), Quân chính (43 điểu); Quyển 3 3 chương: Hộ hôn (58 điều), Điền sản (59 điều), Thông gian (10 điều); Quyển 4 2 chương: Đạo tặc (54 điều), Đấu tụng (50 điều); Quyển 5 2 chương: Trá nguy (38 điều), Tạp luật (92 điều); Quyển 6 2 chương: Bộ vong (13 điều), Đoản ngục (65 điều) [14]. Đi tìm tưởng công quyền tiếp cận công trong bộ luật này, cần phải xem xét tất cả các quy định của Quốc triều hình luật về sự thể hiện tưởng công bằng, công và khả năng tiếp cận công thông qua các quy phạm thủ tục của

Với quan niệm hiện nay, pháp luật đại lượng của sự công bằng, công , thì ngay từ năm đầu thiết lập vương triều , vua Thái Tổ đã tưởng pháp trị, coi pháp luật đại lượng của công bằng, công , theo quan niệm của ông sử dụng pháp luật làm sở để cai trị, ông từng nói: Từ xưa đến nay, trị nước phải pháp luật, không pháp luật thì sẽ loạn. Phát huy tinh thần đề cao pháp luật để củng cố bộ máy nhà nước, Thánh Tông rất coi trọng xây dựng pháp luật một mặt để duy trì trật tự, kỷ cương phép nước, đồng thời nhằm tạo nên sự công bằng, công của hội bảo đảm cho n định, phát triển đất nước trên sở pháp luật. Tháng 8 năm Hồng Đức thứ 2 (năm 1471), nhân ban hành Hiệu định quan chế, vua ra dự rằng: “Đặt ra pháp luật để cho lớn nhỏ cùng ràng buộc với nhau, khinh trọng cùng kiềm chế nhau. Uy quyền không bị lợi dụng, thế nước vậy khó lay. Như vậy, tưởng về một nền pháp trị, coi pháp luật đại lượng công bằng, công đã được hình thành khá rõ nét từ thời này trong truyền thống pháp luật Việt Nam

Lẽ phải sự công bằng, công của Quốc triều Hình luật thể hiện rất đậm nét trong các quy định liên quan đến quyền lợi của phụ nữ, như: quy định về đtuổi kết hôn (con trai 18, con gái 16) nhằm hạn chế nạn tảo hôn không lợi cho con gái; chú trọng bảo vệ danh dự cho người con gái trong việc thoái hôn, từ hôn. Theo Điều 315: nếu nhà gái đã nhận đsính lễ nhà trai trở mặt không lấy nữa thì chủ hôn bên nhà trai phạt 80 trượng, mất đồ sính lễ. Con gái đã hứa gả chồng chưa thành n, nếu người con trai bị ác tật hay phạm tội hoặc phá tán gia sản thì cho phép người con i kêu quan trả đỗ lễ. Nếu người con gái bị ác tật hay phạm tội thì không phải trả đồ lễ [Điều 315, 323]. Ly hôn một trong những quyền quan trọng của người phụ nữ cũng thước đo trình độ văn minh, tự do của con người. Luật Hồng Đức đã quy định người vợ được phép xin ly hôn chồng: khi chồng bỏ lửng vợ 5 tháng, khi con rể mắng nhiếc bố mẹ vợ. Bộ luật đã trao cho phụ nữ quyền ly hôn quyền được kết n sau khi li hôn [Điều 308, 333]

tưởng về công của Quốc triều Hình luật thhiện qua các quy định về sự bình đẳng về tài sản giữa người vợ chồng trong khối tài sản chung, sự bình đẳng giữa các con trong gia đình, bất luận là con gái, hay con trai

Điều 388 quy định: Cha mẹ mất không để lại di chúc thì anh chị em tự chia nhau tài sản nhưng phải để lại 1/20 số ruộng đất làm phần hương hỏa, giao cho người con trai trưởng giữ. Nếu gia đình nào không con trai trưởng thì phn hương hỏa này được giao cho con gái trưởng (Điều 391). tưởng về công lí trong chính sách pháp luật của vua Thánh Tông còn được thể hiện trong các quy định bảo vệ tính mạng, danh dự nhân phẩm cho phụ nữ trong các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình. Điều 113 quy định: Nếu con gái tự bán mình không người bảo lĩnh thì cả người mua, người viết văn khế, người làm chứng đều bị phạt, phải trả lại tiền cho người mua văn khế bị hủy bỏ

Quc triều Hình luật tuy không thoát khỏi thời đại đã sinh ra , nhưng chứa đựng những tưởng về công , công bằng đã hình thành khá nét qua những quy định: về kiện tụng, về phân chia ruộng đất, về hình phạt, ân , ... Đến thời Thái Tông đã xây dựng những nguyên tắc xử các vụ án kiện cáo, hối lộ về những hành động giao thiệp với người nước ngoài. Ngăn cấm quan lại dựa quyền thế chiếm đoạt ruộng đt tự (Điều 370), xử phạt nặng các | hành vi vi phạm quyền sở hữu nhân như cấm lấn chiếm, xâm phạm, ..

Quy định cụ thể việc mua bán, chuyển nhượng, thừa kế, cầm cố đất đai (Điều 355, 366, 388, 390, 391, ...). tưởng về công , quyền tiếp cận công của | bộ luật này còn đưc thể hiện trong chế độ sở hữu, trước hết là chế độ sở hữvề đất đai, đất của nhà nước, đất của làng , đồng thời quy định chặt chẽ chế độ phân phối đất của làng . Đồng thời còn quy định, mọi hành vi mua bánbớt xén vật dụng trong cung, giấu bớt số tiền thuế thu được thì bị xử tội đồ. Nếu chiếm đoạt tiền thuế làm của riêng thì phải bồi thường gấp đôi số thuế thu trả lại cho người dân. Cái công đây thể hiện chính chế độ bồi thường, hoàn trả i sản đã chiếm đoạt. Bên cạnh đó, Bộ luật này còn quy định các hành vi xâm phạm đến tài sản thuộc sở hữu của người khác đều chịu phạt một khoản tiền bồi thường thiệt hại (Điều 375, 370 638,...)

Bộ Hng Việt luật lệ (Luật Gia Long) gồm hai phần, 22 quyển với 398 điều. Đây là bộ luật nhiều nh hưởng, phỏng theo Luật nhà Thanh, về tên gọi: Luật nhà Thanh gọi Đại Thanh luật lệ, thì Luật nhà Nguyễn gọi Hoàng Việt luật lệ

tưởng về công , công bằng, trước hết thể hiện qua các nguyên tắc áp dụng hình phạt luật bất hình luật không quy định thì không phạm tội; nguyên tắc so sánh luật; nguyên tắc xét xử theo luật mới, nguyên tắc chiếu cố; nguyên tắc thưởng phạt; nguyên tắc trách nhiệm hình sự; nguyên tắc | luận tội theo tang vật; nguyên tắc chuộc ti bằng tiền; thông qua những phân biệt giữa tội cố ý và ý, tội cố ý xử nặng hơn lỗi cố ý. Đây thực sự thể hiện sự công bằngcủa pháp luật. Bên cạnh đó tưởng về sự công bằng, công được thể hiện qua các quy định về quyền của nhóm bị yếu thế phụ nữ, người g, quả, tàn tật, trẻ em, những đối tượng này khi phạm tội đều được chuc tội để giảm hình pht, hoặc miễn hình phạt; dân thường phạm tội do gia cảnh thể được nhà để nuôi dưỡng người thân, được ân thường , nếu mắc bệnh thì nhân không bị tra khảo, không bị đánh đập cớ,...

Nvậy, tưởng công , công bằng của bộ luật này được thể hiện trước hết những nguyên tắc áp dụng pháp luật, áp dụng pháp luật tùy thuộc vào hình thức lỗi, phân biệt vai trò của từng người khi cùng phạm tội, các biện pháp giảm hình phạt, chế độ ân đối với người phạm tội thuộc đối tượng người yếu thế

Bên cạnh cái công đó Hoàng Việt luật lệ cũng chứa đựng cái bất côngthể hiện qua các quy định tập thể hóatrách nhiệm nh sự. Điều 223 quy định Mưu phản ... đều đem chém hết

Như vậy, trong pháp luật Việt Nam thời phong kiến, tưởng về công , công bằng vẫn được thể hiện với những tiến bộ nhất định, nhưng đồng thời cũng chứa đựng những mâu thuẫn nội tại của , đó sự đan xen giữa công , công bằngvới bất công, bất công

2. Tư tưởng về công lí, công bằng trong pháp luật cận đại: 

Nếu như pháp luật thời phong kiến tính tổng hợp bao gồm một phức hợp các quy định của các ngành luật khác nhau như luật hình sự, luật dân sự, luật hôn nhân gia đình, luật tố tụng thì pháp luật cận đại Việt Nam đã những sự phân chia bắt đầu hình thành luật . Cuối thế kỷ 19 nửa đầu thế kỷ 20, khi thực dân Pháp đô hộ Việt Nam thì pháp lut theo hình Pháp cũng tràn ngập lãnh thổ Việt Nam. Bằng chứng ba Bộ luật Dân sự đã ra đời bao gồm: BLDS giản yếu áp dụng tại Nam Knăm 1883, BLDS Bắc Kỳ năm 1931, BLDS năm 1936

Nam Kxứ thuộc địa ca Pháp. Do đó, vào những thập kỷ cuối của thế kỷ 19 các tranh chấp pháp đều do các tòa án Pháp xử. Nhu cầu về pháp luật theo kiểu của Pháp được đặt ra. BLDS giản yếu được ban hành vào ngày 26/03/1884, nhưng vẫn quen gọi Bộ Dân luật giản yếu năm 1883 bởi trước đó hai sắc lệnh được ban hành vào năm 1883 liên quan tới quốc tịch, trú hộ tịch. Bộ luật này được xem giản yếu bởi nhiều khiếm khuyết cả về phạm vi điều chỉnh về sự phù hợp với hội Việt Nam thời đó. Về phạm vi, Bộ luật này chủ yếu chỉ quy định về nhân thân. Vấn đề thiếu sự phù hợp với hội Việt Nam của bộ luật y thể được xem một cải cách tiến bộ xét từ quan điểm ngày nay

BLDS Bắc Kỳ năm 1931 được ban hành bởi Thống sứ Pháp Bắc Kỳ. Bộ luật này tinh thần tôn trọng các phong tục tập quán riêng của các dân tộc ít người ng cao, tức các tập quán phong tục này vẫn được áp dụng. Bộ luật này tiến bộ về phương diện pháp điển hóa bởi đã suy tính tới việc hợp nhất luật dân sự luật thương mại, thực tế đã nhiều quy định về hình thức thương hội trong chương nói về khế ước lập hội. Điều này cho thấy sự chuyển biến theo chiều hướng phát triển thương mại

BLDS Trung Kỳ được ban hành từng quyển suốt từ năm 1936 tới năm 1939, song vẫn được gọi BLDS Trung Knăm 1936 bởi vào năm đó, quyển thứ nhất của Bộ luật này được thông qua. Bộ luật này gần như chép lại BLDS Bắc Kỳ năm 1931 với một vài sửa đổi không lớn. Tuy nhiên, Bộ luật này cho thấy sự thay đổi lớn về quan điểm pháp điển hóa so với BLDS Bắc Knăm 1931 chỗ Bluật y đã không quy định về các hình thức thương hội trong chương nói về khế ước lập hội như BLDS Bắc Kỳ năm 1931 để chuẩn bị cho sự ra đời Bộ luật Thương mi (BLTM) năm 1942. Sự thay đổi này khiến cho Bộ luật này càng gần gũi với BLDS Pháp

Ngoài việc phân chia các ngành lut khác với luật cổ, quan niệm về nguồn của pháp luật và thứ tự ưu tiên áp dụng các loài nguồn đã sự thay đổi bản từ khi sự thay đổi cưỡng bức pháp lut theo truyền thống Civil Law. BLDS Bắc Kỳ m 1931 quy định

Khi nào không điều luật thi hành được, thì quan Thẩm phán xử theo tập quán phong tục, nếu không phong tục, txử theo lẽ phải sự công bằng, cùng châm chước tục riêng, thói quen tình ý của người đương sự

Quan Thẩm phán sẽ giải quyết theo luật học án lệ. (Điều thứ 4)

BLDS Trung Kỳ năm 1936 cũng chép nguyên như vậy với việc sửa sang một i từ có tính ch vùng miền. Các quy tắc này không tìm thấy trong Thiên mở đầu của BLDS Pháp, nhưng thể tìm thấy trong BLDS hiện hành của Louisiana (Hoa K)

Cũng như hai BLDS Bắc KTrung Kỳ, BLDS năm 1972 của Việt Nam Cộng Hòa cũng đã quy định các nguồn luật thứ tự áp dụng các nguồn luật khi giải quyết vụ việc. BLDS 1972 quy định: Gặp trường hợp nào kng có điều luật để dẫn dụng, thẩm phán sẽ quyết định theo tục lệ, nếu không tục lệ, sẽ theo lẽ công bằng lẽ phải xét xử phải chú trọng đến ý chí của các đương sự

Ngoài việc cho thấy việc mở rộng các loại nguồn của pháp luật định ra thứ tự ưu tiên áp dụng các loại nguồn, điều luật này cho thấy ba biến đổi lớn, đó : (1) thay đổi n nguyên ca pháp luật tluân sang công ; (2) giao việc giải thích luật cho thẩm phán; (3) khuyến khích sự phát triển của học thuyết pháp

Chép lại Điều 4 BLDS Pháp, BLDS của Việt Nam thời kỳ cận đại đều quy định về nguyên tắc bất khả thụ lý vụ việc. Điều thứ 5 BLDS Bắc Kỳ năm 1931 quy định như sau: Phàm Thẩm phán lấy cớ rằng luật không định, không , hay là không đủ thoái thác không xét xử thì thể bị truy tố về tội bất khả thụ lý. Điều thứ 5 BLDS Trung Kỳ năm 1936 cũng viết tương tự

Điều 8 BLDS 1972 nêu: Thẩm phán nào không chịu xét xử lẽ luật không quy định hay luật tối nghĩa, thiếu sót sẽ thể bị truy tố về tội bất kháng thụ

Như vậy, pháp luật Vit Nam thời kỳ cận đại đã những quy định rất ràng thể hiện việc áp dụng các nguồn của pháp luật dân sự, cũng đã quy định về lẽ công bằng. Mặc chưa được khái quát được khái niệm về lẽ công bằng, nhưng chúng ta cũng đã thấy được tưởng tiến bộ của pháp luật thời kỳ này. Khi pháp luật dân sự hiện đại, cụ thể là BLDS 1995 BLDS 2005 đã không quy định về vấn đề này

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo