Pháp luật về bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong hôn nhân

Cả nam và nữ đều có quyền bình đẳng trong việc kết hôn, trong quan hệ vợ chồng và các quan hệ khác theo pháp luật và phải tuân thủ các điều kiện được quy định trong pháp luật hôn nhân và gia đình.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6586

Số điện thoại Luật sư: 058.7999997

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong kết hôn: 

Quyền kết hôn quyền nhân thân gắn liền với của chủ thể và không thể chuyển giao cho người khác. thể thấy quyền kết hôn, lập gia đình nh đẳng trong hôn nhân đầu tiên được đề cập trong Điều 16 UDHR : Nam nữ khi đủ tuổi đu có quyền kết hôn xây dựng gia đình không bất ksự hạn chế nào về chủng tộc, quốc tịch hay n giáo. Nam và nQuyền bình đẳng trong việc kết hôn, trong thời gian chung sống và khi ly hôn. Việc kết hôn chỉ được tiến hành với sự đồng ý hoàn toàn tự nguyện của cặp vợ chồng tương lai (Khoản 1 2). Khoản 3 Điều này cũng khẳng định, gia đình tế bào tự nhiên bản của hội, được nhà nước hội bảo vệ

Nhằm cụ thể hóa điều đó, Hiến pháp năm 2013 đã quy định Nam, nữ quyền kết hôn, ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vmột chồng, vchồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, cùng với đó bộ luật dân sự năm 2015 cũng quy định: nhân quyền kết hôn.... Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam, khi muốn thực hiện quyền kết hôn của mình thì phụ nữ cần phải đáp ứng các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 Luật HN&năm 2014 về điều kiện kết hôn cụ thể như sau: 1.a) Nam từ đủ 20 tuổi trở n, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên; b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định; c) Không bị mất năng lực hành vi n sự;.

Ngoài các điều kiện trên, pháp lut cũng đưa ra các trường hợp cấm kết hôn, theo đó bao gồm những hành vi: kết hôn giả tạo, tảo hôn, cưỡng ép, lừa dối, cản trở việc kết hôn,...Ngoài ra việc kết hôn cũng không được sự phân biệt đối xử, quyền kết hôn không phụ thuộc vào địa vị, thành phần hội, dân tộc, tôn giáo quc tịch... Việc pháp luật quy định các điều cấm này nhằm bảo vệ chế độ hôn nhân gia đình. Hôn nhân phải xuất phát trên sở tự nguyện, không bị thúc ép, bắt buộc bởi bất kỳ một bên thứ ba nào khác

Như vậy cả nam nữ đều quyền kết hôn theo pháp luật phải tuân thủ các điều kiện được quy định khi thực hiện việc kết hôn. Để đảm bảo quyền lợi của các bên trong đó quyền của phụ nữ ngoài các quy định về điều kiện kết hôn các trường hợp cấm kết hôn pháp lut HN&còn quy định về các chế tài cần thiết để bảo vệ quyền kết hôn của phụ nữ theo quy định ti Điều 10 LHN&năm 2014, Khoản 1 Điều 29 Bộ Luật TTDS năm 2015. Như vậy thể thấy pháp luật luôn đảm bảo quyền kết hôn của phụ nữ nói riêng cũng như quyền kết hôn của nam giới nói chung được thực hiện một cách hiệu quả.

2. Bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong quan hệ vợ và chồng: 

Nguyên tắc vợ chồng bình đẳng được ghi nhận đầu tiên trong hệ thống pháp lut của Nnước ta từ Sắc lệnh số 97SL ngày 22/5/1950 của Chủ tịch nước về sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật đồng thời đây cũng một nguyên tắc trong luật HN&, theo đó sắc lệnh đã cụ thể hóa về Quyền bình đẳng của vợ chồng trong hôn nhân gia đình, theo đó Chồng vcó địa vbình đẳng trong gia đìnhtheo Điều 5 Sắc lệnh, cùng với đó đảm bảo quyền tự do kết hôn cho hai bên nam nữ, trong thời kỳ tang chế vẫn thể lấy chồng được...những quy định trên đã thể hiện sự quan tâm của nhà nước đến Quyền bình đẳng của phụ nữ trong HN&từ những ngày đầu, điều này ý nghĩa to lớn trong việc mở ra quy định về các Quyền bình đẳng về nhân thân, tài sản, con cái, các quyền nghĩa vụ của người phụ nữ trong các quy phạm pháp luật sau này

Thứ nhất, quyền nhân thân. Quyền nhân thân trong HN&thể hiểu quyền của nhân theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại Điều 17, Luật HN&năm 2014 về Bình đẳng về quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng theo đó: Vợ, chồng bình đẳng với nhau, quyền, nga vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân., Quyền bình đẳng về quyền nghĩa vụ giữa vợ chồng cũng chính một trong những nguyên tắc bản của Luật HN&. Trong quan hệ nhân thân trong hôn nhân gia đình trước hết đó quyền của người vợ được nhận được sự thương yêu, chung thủy, nội dung này được quy định tại Điều 19 của Luật HN&: 1. Vợ chồng nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình., từ quy định này thể hiện vị trí vai trò bình đẳng như nhau giữa vợ và chồng không sự phân biệt về vị trí, vai trò của mỗi thành viên trong gia đình

Theo quy định ti khoản 2 Điều 19, vợ chồng cũng quyền nghĩa vụ phải tạo lập cuc sống chung, xây dựng gia đình, quy định này cũng nhằm đảm bảo lợi ích của các bên trong đó quyền của phụ nữ, tránh hôn nhân giả tạo cũng như cùng nhau san sẻ các công việc gia đình. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp do nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, hội do chính đáng khác thì pháp luật cũng cho phép vợ, chồng thể không sống chung với nhau

Tiếp theo đó quyền được chăm sóc, giúp đỡ tôn trọng lẫn nhau, đó sự quan tâm, lắng nghe thu hiểu. Vợ chồng cùng phải ý thức quan tâm chăm sóc lẫn nhau cả về vật chất lẫn tinh thần, chăm lo cho gia đình, bảo đảm cho gia đình tồn tại phát triển theo đúng mục tiêu Đảng Nhà nước ta đã đề ra trên tinh thần no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. Mọi hành vi ngược đãi, xúc phạm danh dnhân phm đều bị pháp luật nghiêm cấm các chế tài xử lý. Trong Luật phòng chống bạo lực gia đình năm 2007 cũng các quy định về c hành vi bo lực trong đó các hành vi vi phạm quyền được chăm sóc tôn trọng lẫn nhau như: Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc nh vi cố ý khác xâm hại đến sức kho, tính mạng; b) Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm; c) Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lc thường xuyên về tâm lý gây hậu qunghiêm trng” 

Thứ hai, về quyền tài sản. Trong quan hệ tài sản giữa vợ chồng mối quan hệ bình đẳng với nhau. Theo Điều 28 Luật HN&năm 2014, trước khi kết hôn vợ chồng thể lựa chọn chế độ tài i sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận. Nếu hai bên thỏa thuận thì phải lập thành văn bản công chứng chứng thực, nếu các bên không thỏa thuận thì áp dụng chế độ tài sản theo luật định, điều này cho thấy sự tôn trọng của pháp luật với thỏa thuận của hai bên vợ chồng đồng thời cũng bảo vệ lợi ích chung của gia đình của người thứ ba

Một , tài sản riêng của vợ và chồng được quy định ti điều 43, Luật HN&GĐ 2014, quy định về tài sản riêng như sau: 1. Tài sản riêng của v, chồng gồm tài sản mà mỗi người trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 40 của Luật này; tài sn phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.Như vậy thể thấy người vợ hoàn toàn quyền độc lập toàn quyền quyết định việc chiếm hữu định đoạt tài sản riêng của mình. Pháp LHN&cũng quy định người vợ quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng của mình vào tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 44 của Luật HN&. Các quy định như vậy sẽ giúp đảm bảo được lợi ích của các bên trong thời kỳ hôn nhân cũng như sau khi quan hệ hôn nhân đã không còn nữa, đảm bảo sự độc lập không bị phụ thuộc của người phnữ

Hai , về tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Sau khi kết hôn chai sẽ cùng chung sống cùng đóng góp công sức để tạo dựng tài sản chung nhằm đảm bảo đời sống chung của cả gia đình. Điểm mới của luật HN&năm 2014 như đã nêu trên các bên thể thỏa thuận về chế độ tài sản theo quy định tại các điều từ điều 47 đến điều 50 hoặc khi các bên không thỏa thuận thì áp dng chế độ theo luật định từ điều 33 đến điều 46, các quy định này nhằm bảo đảm quyền tự định đoạt nguyên tc bình đng giữa vợ chồng cũng nchế độ i sản của vợ chồng. Tuy nhiên xét về mặt nguyên tắc hai bên thỏa thuận áp dụng chế độ tài sn o đi chăng nữa thì pháp luật quy định cũng đều phải tuân thủ các nguyên tắc chung về chế độ tài sản tại Điều 29 theo đó V, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung, không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động thu nhập.Về tài sản chung của vợ chồng được quy định cụ thể tại Điều 33 theo đó: Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ n nhân.” 

Đầu tiên, thể thấy phụ nữ bình đẳng với người chồng trong việc chiếm hữu, quản sử dụng tạo ra tài sản chung. Vợ chồng bình đẳng với nhau trong việc tạo ra tài sản chung người chồng công việc ổn định người vợ không đi làm chỉ nhà làm nội trợ đi chăng nữa thì họ vẫn được coi bình đẳng với nhau và không sự phân biệt giữa lao động trong gia đình lao động thu nhập, công sức đóng góp tạo ra thu nhập của hai người như nhau. Vợ chồng phải nghĩa vsử dụng i sản theo đúng các quy định của pháp luật, quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc sử dụng tài sản đó. Ngoài ra việc quản , sử dụng định đoạt tài sản thể thỏa thuận giữa các bên không nhất thiết phải do cả hai vợ chồng cùng quản , sử dụng

Hai là, Quyền bình đẳng của phụ nữ trong việc sử dụng tài sản chung đđảm bảo các nhu cầu của gia đình. Các nhu cầu hàng ngày của gia đình thể việc ăn uống, điện nước, sinh hoạt, đi lại, việc học tập của các con, chăm lo sức khỏe các thành viên trong gia đình...Điều này được quy định tại Điều 30 của Luật HN&theo đó người vợ có quyền được thực hiện các giao dịch nhằm đảm bảo các nhu cầu thiết yếu của gia đình trong các trường hợp vợ chồng không tài sản chung hoặc tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì vợ, chồng nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên

Ba là, Quyền bình đẳng của phụ nữ thể hiện qua việc xác lập, thực hiện chấm dứt các giao dịch liên quan đến tài sản chỗ duy nhất. Theo điều 31 LHN&quy định các bên quyền thỏa thuận về việc xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến nhà nơi duy nhất của vợ chồng phải sự thỏa thuận của vợ chồng. Trong trường hợp nhà thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng thì chủ sở hữu quyền xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản đó nhưng phải bảo đảm chỗ cho vợ chồng. Khoản 1 điều 34 cũng quy định Trong trường hp i sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng pháp luật quy định phải đăng quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền shữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng thỏa thuận khác.Quyền bình đẳng giữa vợ chồng còn được thể hiện qua việc định đoạt tài sản chung phải sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chng trong những trường hợp liên quan đến bất động sản, động sản theo quy định của pháp luật phải đăng quyền sở hữu; tài sản đang nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình (Điều 35), hoặc thỏa thuận về việc một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh (Điều 36). Các giao dịch n sliên quan đến tài sản chung chỉ mang ý chí của một bên không sự thỏa thuận của bên còn lại thì bên đó quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó hiệu theo quy định của bộ luật n sự năm 2015

Cuối cùng, Quyền bình đẳng của phụ nữ thể hiện qua quyền đại diện giữa vợ chồng trong khi thực hiện các giao dịch. Điều này xuất phát trên sở bình đẳng tự do nhân, vợ chồng thể thỏa thuận giúp đỡ nhau để nhằm bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình khi một trong các bên không thể trực tiếp tham gia được các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại,... cũng như các quan hệ hội khác. Việc đại diện có thể theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền, đại điện giữa vợ chồng được quy định ti Điều 24 LHN&theo đó V, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện chấm dứt giao dịch theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự các luật khác liên quan phải sự đồng ý của cả hai vợ chồng, vợ, chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự bên kia đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự bên kia được Tòa án chđịnh làm người đại diện theo pháp luật cho người đó, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật thì người đó phải tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ liên quan

thể thấy các quy định trong đại diện giữa vợ chồng nhằm hướng tới Quyền bình đẳng của phụ nữ, người vợ cũng tương tự như người chồng trong gia đình cũng quyền đại diện không bị phân biệt với người chồng, đảm bảo được lợi ích chung của gia đình, cũng như tránh các giao dịch trái với các quy định của pháp luật

Thứ ba, quyền đối với con cái. Trong quan hệ với con cái, vợ chồng cũng các quyền nghĩa vụ bình đẳng như nhau. Theo quy định của pháp luật các sự kiện bao gồm như sinh con, hay nhận nuôi con nuôi... đều làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ con cái. Con cái sinh ra sẽ chịu ảnh hưởng rất lớn từ cha mẹ và môi trường giáo dục do vậy cha mẹ những người nghĩa vụ thực hiện các vấn đề nhằm đảm bảo chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục chúng một cách tốt nhất. Quyền bình đẳngvề chăm sóc nuôi ỡng giáo dục con được thể hiện cụ thể tại điều 61 Luật HN&năm 2014, theo đó các quyền của cha mẹ với con cái bao gồm: Thương u con, tôn trng ý kiến của con; chăm lo vic học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tu, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân ích cho hội. 2. Trông nom, nuôi ỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, ....Khoản 1 Điều 71 cũng quy định rất ràng về Quyền bình đẳng của cha mẹ trong việc chăm sóc nuôi dưỡng con cái trong mọi hoàn cảnh, trường hợp Cha, mẹ nghĩa vụ quyền ngang nhau.... Nhằm bảo vệ các Quyền bình đẳng của cha mẹ nói chung quyền của phụ nữ nói riêng, nghị định số 167/2013 CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn hội; phòng, chống tệ nạn hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình đã quy định về các hành vi ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, và cháu; giữa cha, mẹ con; giữa vợ chồng; giữa anh, chị, em với nhau. Theo đó Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa ông, bà cháu; giữa cha, mẹ và con,...” 

Quyền bình đẳng giữa vợ chồng đối với con cái cũng thể hiện qua việc bình đẳng trong việc đại diện cho con được quy định cụ thể ti khoản 3 Điều 69 Luật HN&năm 2014 Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bluật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.Điều 73 cũng quy định về đại diện cho con theo đó cha mẹ sẽ người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp con người khác làm giám hộ hoặc người khác đại diện theo pháp luật, cha hoc mẹ quyền tự mình thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân shoặc không khả năng lao động không tài sản để tự nuôi mình, đối với các tài sản như động sản bất động sản đăng quyền sở hữu quyền sử dụng thì phải sự thỏa thuận của cha mẹ về người sẽ trực tiếp thực hiện các giao dịch dân sự đó. Các quy định này đã góp phần thể hiện Quyền bình đẳng trong quan hệ hôn nhân gia đình giữa vợ chồng đồng thời cũng gắn liền với quyền nghĩa vụ của cha mẹ đối với con cái

Không những vậy, Quyền bình đẳng giữa vợ và chồng cũng được thể hiện qua các quyền được lựa chọn họ tên cho con, quyền lựa chọn tôn giáo, nơi trú cho con, khi thực hiện các quyền này vợ chồng đều phải sthỏa thuận với nhau tất cả những vấn đề đó phải những điều kiện giúp con phát triển tạo điều kiện tốt nhất cho con.

3. Bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ trong việc nuôi con nuôi: 

Đối với các cặp vợ chồng hiện nay, vấn đề nuôi con nuôi ngày càng quan trọng. Trong đó, việc bình đẳng giữa người phụ nữ (người v) và chồng trong việc thỏa thuận nhận nuôi, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng... cần được quan tâm chú trọng, giúp phụ nữ được bình đẳng ngay cả trong vấn đề nhận nuôi con nuôi hiện nay. Nuôi con nuôi việc xác lập quan hệ cha, mẹ con giữa người nhận con nuôi người được nhận làm con nuôi. Việc được nhận nuôi con nuôi của các cặp vợ chồng còn thể hiện tính nhân văn trong việc tạo điều kiện cho đứa trẻ được sống phát triển trong một gia đình trọn vẹniều kiện về mọi mặt giúp đứa trẻ được sinh sống phát triển tốt nhất. Điều đó ý nghĩa cùng quan trọng không chỉ đối với các cặp vợ chồng còn đứa trẻ. Điều 2, Luật Nuôi con nuôi m 2010 đã đặt ra quy định về mục đích nuôi con nuôi, đó việc nhận nuôi con nuôi nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ con lâu dài, bền vững, lợi ích tốt nhất của người được nhận làm con nuôi, bảo đảm cho con nuôi được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong môi trường gia đình. Như vậy, xét các khía cạnh về đạo đức, về chuẩn mực hội, góc độ về quyền con người hay các góc độ khác thì quyền nuôi con nuôi của người phụ nữ nói riêng hay của cặp vợ chồng nói chung cũng đều bắt nguồn và xuất phát từ những nhu cầu thiết yếu, mong muốn, hạnh phúc của con người được chun mực được quốc gia cộng đồng quốc tế ghi nhận. Từ những phân tích trên, thể hiểu: Quyền nuôi con nuôi nhu cầu khách quan tự nhiên của con người được thể hiện việc các cặp vợ chồng mong muốn được nhận nuôi con nuôi, đủ các điều kiện thì được ghi nhận, thúc đẩy và bảo đảm bằng pháp luật

Hiện nay, tại Việt Nam đã Luật HN&, Luật Nuôi con ni các văn bản dưới luật, hướng dẫn thi hành tương đối đầy đủ về vấn đề nhận nuôi con nuôi. Theo đó, pháp luật đã đặt ra những quy định cụ thể, ràng nhằm đảm bảo Quyền bình đẳng của phụ nữ trong việc quyền được nhận, nuôi, chăm sóc, giáo dục con nuôi, ngang bằng với quyền của người chồng trong gia đình. Qua đó, thể hiện sự công bằng, bình đẳng giữa vợ chng trong việc nhận nuôi con nuôi. Cụ thể, pháp luật Việt Nam hiện hành đã quy định

Luật Nuôi con nuôi năm 2010 đã những quy định về điều kiện nhận con nuôi trong nước. Luật Nuôi con nuôi năm 2010 đã quy định người nhận nuôi phải đủ các điều kiện theo Điều 14 thì được phép nhận con nuôi. Mặt khác, Khoản 1, Điều 2, Nghị định số 24/2014/CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 19/2011/NĐCP ngày 21 tháng 3 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi. Thẩm quyền đăng nuôi con nuôi thuộc về quan sau: (1) Trường hợp cha dượng hoặc mkế nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi; , cậu, , chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì UBND cấp i trú của người nhận con nuôi hoặc ca người được nhận m con nuôi thực hiện đăng việc nuôi con nuôi; (2) Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi chưa chuyển vào cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì UBND cấp xã nơi lập biên bản xác nhận tình trạng trem bị bỏ rơi thực hiện đăng việc nuôi con nuôi; (3) Trường hợp trem sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì UBND cấp i trụ sở của sở nuôi dưỡng thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi

Từ những quy định trên, nhận thấy rằng những quy định của pháp luật Việt Nam vnuôi con nuôi hiện hành đã những quy định chi tiết, cụ thể trong việc xác định điều kiện nhận và nuôi con nuôi của từng người cụ thể; hơn nữa với việc xác định quyền được làm cha mẹ một quyền nhân thân quan trọng của con người, gắn liền với từng người, bình đẳng như nhau giữa nam nữ, được pháp luật tôn trọng, bảo vệ tạo điều kiện để nhân thực hiện quyền đó nnhau trong cùng một gia đình được pháp luật ghi nhận, bảo đảm thực hiện

Trong Luật HN&năm 2014 đã có quy định đề cập tới mối quan hệ giữa cha mẹ con. Cụ thể, luật quy định việc cha mẹ nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cái như nhau... hay các quyền giám hộ hoặc đại diện cho con nuôi... Những quy định trên được xây dựng dựa trên việc tiếp cận, học hỏi kế thừa có chọn lọc những kinh nghiệm của pháp luật quốc tế. Điển hình, tại công ước CEDAW đã khẳng định: Thừa nhận trách nhiệm chung của cả vợ lẫn chồng trong việc nuôi dạy phát triển con cái, lợi ích ca con cái phải được nhận thức ưu tiên hàng đầu trong mọi trường hợp(Điểm b, Điều 5). Điều đặc biệt quan trọng đó Công ước chỉ

Quyền và trách nhiệm như nhau với vai trò làm cha mtrong mọi vấn đề liên quan đến con cái, bất kể tình trạng hôn nhân như thế o(Điểm d, Điều | 16). Như vậy trách nhiệm của cha mẹ đối với con như nhau trong mọi trường hợp: khi hôn nhân đang tồn tại, sau khi ly hôn, khi không quan hệ n nhân hoặc trong hôn nhân trái pháp luật. 

Qua đây, nhận thấy quyền giữa vợ chồng đều được pháp lut quy định bình đẳng về các phương diện trong mối quan hệ HN&. Liên quan đến quyền nuôi con nuôi, pháp luật đã những quy định điu chỉnh vấn đề nhận, nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc và nuôi con nuôi giữa vợ chồng.

4. Bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ với tư cách là thành viên trong gia đình: 

Trong mỗi gia đình, người phụ nữ luôn đóng vai trò quan trọng, ngoài thiên chức của người phụ nữ với cách người vợ đối với chồng, người mẹ đối với con cái thì trong mỗi gia đình người phụ nữ còn có các cách người với con cháu, chị em gái, người , người hay bác ruột. Với mỗi cách lại gắn liền với những quyền nhất định đã được quy định cụ thể trong pháp luật HN&

Thứ nhất, với cách người , theo Điều 104, Luật HN&thì ông nội, ông ngoại quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu, sống mẫu mực nêu gương tốt cho con cháu; trường hợp cháu chưa thành niên, cháu đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không khả năng lao động kng tài sản để tự nuôi mình mà không người nuôi dưỡng. Cùng với đó trong trường hợp ông nội, ông ngoại không con để nuôi dưỡng mình thì cháu đã thành niên nghĩa vụ nuôi dưỡng, kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông nội, ông ngoại

Thứ hai, với cách chị em gái trong gia đình theo Điều 105 Luật HN&năm 2014 quy định anh, chị, em quyền, nghĩa vụ thương yêuchăm sóc, giúp đỡ nhau; quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con

Thứ ba, với cách , , bác gái ruột các quyền, nghĩa vụ phải thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu ruột trong trường hợp người cần được nuôi dưỡng không còn cha, mẹ nữa. Ngoài ra, nhằm đảm bảo quyền lợi pháp luật cũng quy định cháu đã thành niên không sống chung với , , chú, cậu, bác ruột nghĩa vụ cấp dưỡng cho , , chú, cậu, bác ruột trong trường hợp người cần được cấp dưỡng không khả năng lao động không tài sản để tự nuôi mình không người khác cấp dưỡng theo quy đnh tại Khoản 2 Điều 114 Luật HN&năm 2014

Trong trường hợp sống chung với cha mẹ chồng, với cách người con dâu thì sẽ các quyền được cha mẹ chồng thương yêu, tôn trọng, giúp thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp theo quy định của pháp luật cụ thể tại Điều 80 của Luật HN&năm 2014

Như vậy, Quyền bình đẳng của phụ nữ trong HN&với mối quan hệ của các thành viên trong gia đình thì luôn đề cao việc yêu thương, đùm bọc giúp đỡ nhau. Người phụ nữ rất nhiều cách và vai trò trong gia đình như , mẹ, , ...sẽ cần nhận được bình đẳng với các thành viên khác. Pháp luật cần các quy định ràng, cụ thể đầy đủ tránh tình trạng thiếu căn cứ gây nên những khó khăn trong quá trình áp dụng. Với trường hợp bảo đảm sự bình đẳng của phụ nữ trong mối quan hệ giữa các thành viên thì cần bảo đảm, thúc đẩy tạo điều kiện cho người phụ nữ hội phát triển, thể hiện ý kiến, quan điểm của mình trong các vấn đề gia đình. Các ý kiến đó cần được tôn trọng, các thành viên trong gia đình cần chia sẻ và cùng nhau giúp đỡ hvượt qua những khó khăn, tránh trường hợp để người phụ nữ phải gánh chịu những sự xâm phạm quyền liên quan đến sự bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình. chế bảo đảm Quyền bình đẳng của phụ nữ trong mối quan hệ với các thành viên trong gia đình sự tuyên truyền, vận động, bảo đảm bằng các phương thức liên quan đến đạo đức, truyền thống gia đình Việt, thuần phong mỹ tục, phong tục tập quán, pháp luật các giá trị khác. vậy, Quyền bình đẳng của phụ nsngày càng được coi trọng thúc đẩy mạnh mẽ, cần sự phối hợp giữa các thành viên trong gia đình và xã hội hiện tại tương lai.

5. Bảo đảm quyền bình đẳng của phụ nữ khi chấm dứt hôn nhân: 

Chấm dứt hôn nhân thể hiểu sự kết thúc của mối quan hệ hôn nhân được pháp luật công nhận. Tại chương IV, Luật HN&năm 2014 quy định 02 trường hợp chấm dứt hôn nhân ly hôn hôn nhân chấm dứt do vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố đã chết. Trường hợp hôn được chia thành ly hôn theo yêu cầu một bên (còn gọi là đơn phương ly hôn) (Điều 56 Luật HN&năm 2014) và thuận tình ly hôn (Điều 55 Luật HN&năm 2014)

Khon 14 Điều 3 Luật HN&năm 2014 quy định: Ly hôn việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Khi cuộc sống hôn nhân trở nên mâu thuẫn không còn tiếng nói chung, việc hòa giải không còn hiệu quả nữa thì việc ly hôn trong lúc này nhằm đảm bảo quyền lợi ích chính đáng của các bên. Quyền bình đẳng của phụ nthể hiện quyền yêu cầu ly hôn: Quyền này được quy định cụ thể tại điều 51 về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn cụ thể:Vợ, chồng hoặc cả hai người quyền u cầu Tòa án giải quyết ly hôn.Như vậy khi xảy ra mâu thuẫn không thể tiếp tục hôn nhân thì chai bên vợ chồng đều quyền yêu cầu tòa án giải quyết việc ly hôn. Người vợ quyền yêu cầu thuận tình ly hôn theo quy định tại Điều 55 theo đó trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn. Việc đơn phương yêu cầu ly hôn được quy định tại điều 56 Luật HN&. Trong các quy định về ly hôn ngoài người vợ quyền yêu cầu thì những người thân trong gia đình hoàn toàn quyền yêu cầu tòa án giải quyết việc ly hôn, điều này được quy định tại khoản 2 Điều 51 Luật HN&theo đó: Cha, mẹ, người thân thích khác quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hônQuy định này sẽ giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của một trong hai bên vợ chồng khi một trong hai bên vợ chồng bị tâm thần, hoặc mắc bệnh không làm chủ được hành vi đồng thời nạn nhân của bạo lực gia đình. Họ những người bị mất năng lực hành vi dân sự do vậy không khả năng tự mình thực hiện quyền yêu cầu Tòa án giải quyết, đây cũng một quy định mới trong Luật HN&năm 2014 có ý nghĩa to lớn trong việc bảo vệ Quyền bình đẳng của phụ nữ

Trong quy định tại Điều 51 về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn, nhằm đảm bảo quyền lợi của người phụ n, cũng như bảo vệ quyền của trẻ em, pháp luật HN&quy định về hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng. Trong trường hợp người vợ đang thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì người chồng sẽ không quyền yêu cầu ly hôn. Trong trường hợp này, tòa án sẽ không thụ đơn xin ly hôn của người chồng người chồng phải đợi đến khi người vợ sinh con xong và đa trẻ trên 12 tháng tuổi mới được tiếp tục xin ly hôn. Trong thời kỳ mang thai là thời kỳ hết sức nhạy cảm, người vợ phải chịu rất nhiều những áp lực sự thay đổi rất lớn từ tâm sinh , lúc này trách nhiệm của người chồng cùng quan trọng trong việc chăm lo cho sức khỏe của người vợ. Tuy nhiên thể thấy pháp luật chỉ hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng nghĩa trong trường hợp người vợ đang thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi đơn yêu cầu thì tòa án vẫn thụ giải quyết, nhằm đảm bảo tôn trọng sự lựa chọn của người vợ đảm bảo các quyền lợi ích chính đáng của người phụ nữ

Quyền bình đẳng của phụ nữ trong việc trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn: Theo quy định tại điều 81, Lut HN&năm 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn .Như vậy, sau khi ly hôn cha mvẫn các quyền nghĩa vụ như nhau, về người trực tiếp nuôi con các bên thể thỏa thuận ai sẽ người thực hiện pháp luật tôn trọng các thỏa thuận đó. Đáng chú ý tại Khoản 3 Điều 81 quy định Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôicho thấy trong trường hợp người mẹ đủ các điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc nuôi ỡng con dưới 36 tháng tuổi thì sẽ được pháp luật ưu tiên trong quyền nuôi dưỡng con cái, chúng ta cũng thể thấy rằng một đứa trẻ 36 tháng tuổi rất cần sự chăm sóc nuôi dưỡng của người mẹ chúng còn quá nhỏ, điều này hoàn tn phù hợp đồng thời cũng bảo đảm quyền của người mẹ các quyền của đứa trẻ đó

Sau khi đã quy định hoặc thỏa thuận của các bên về ai sẽ người trực tiếp nuôi con thì bên còn lại quyền và nghĩa vụ thăm nom không ai quyền cản trở cụ thể tại Điều 82 Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con nghĩa vtôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.Ngoài ra, trong trường hợp người vợ không quyền trực tiếp nuôi con nhưng vẫn sẽ quyền được thăm nom chăm sóc con, đảm bảo con vẫn nhận được sự quan tâm, chăm sóc của cả bố mẹ

Quyền bình đẳng về tài sản sau khi ly hôn. Khi chấm dứt quan hệ hôn nhân, pháp luật thường tôn trọng sự thỏa thuận của các bên. Về mặt nguyên tắc theo điều 59 Luật HN&Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận, còn trong trườnhợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận vợ chồng đã xác lập trước đó. Như vậy thể thấy pháp luật rất tôn trọng đề cao thỏa thuận của hai bên, vợ chồng đều Quyền bình đẳng như nhau trong định đoạt, phân chia tài sản chung. Chỉ khi các bên tranh chấp yêu cầu Tòa án giải quyết thì khi đó tài sn sẽ được chia đôi căn cứ vào các yếu tố như: hoàn cảnh của gia đình của vợ, chồng, công sức đóng góp; yếu tố lỗi. Những yếu tố căn cứ này cũng đều đã thể hiện nguyên tắc bình đẳng của vợ chồng trong việc chia tài sản chung sau khi ly hôn, đảm bảo quyền lợi của các bên khi tranh chấp xảy ra

Quyền bình đẳng của người vợ trong chấm dt hôn nhân do Chồng chết hoặc tòa án tuyên bố đã chết: theo Điều 66 trong trường hợp này người vợ quyền quản tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc chỉ định người khác quản di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cngười khác quản di sản. Khi các yêu cầu về chia di sản thì nếu không thỏa thuận khác thì tài sản sẽ được chia đôi, đối với phần tài sản chung đã chia người vợ sẽ quyền thừa kế đối với phần tài sản đó. Pháp luật cũng quy định trong trường hợp người vợ thấy việc phân chia di sản làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của mình hoặc gia đình quyền yêu cầu tòa án hạn chế phân chia di sản.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo