Đồng thuận là gì? Nội dung cụ thể của nguyên tắc đồng thuận 

Đặc điểm quan trọng bậc nhất của sự đồng thuận là phải dựa trên sự tự nguyện, đồng nghĩa không phải là kết quả của sự cưỡng ép, đe dọa, lừa đảo hay nhầm lẫn giữa các bên trong bất kỳ giao dịch hay quan hệ nào.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6586

Số điện thoại Luật sư: 058.7999997

Email: luatsu@luatduonggia.vn

Những định nghĩa của UNDP hay kể cả của UNESCAP mới chỉ dừng lại mức độ rất khái quát. Nội dung của nguyên tắc này còn cần phải được làm để giá trị hướng dẫn đối với nhà nước các chủ thể khác trong hội

Vấn đề đầu tiên cần được làm nội hàm của khái niệm đồng thuận. Vấn đề tiếp theo là những khía cạnh tính cách kỹ thuật của nguyên tắc đồng thuận: (i) cần phải đạt được đồng thuận trong những vấn đề , nói cách khác, các mục tiêu nguyên tắc đồng thuận thúc đẩy những mục tiêu nào; (ii) sự đồng thuận của những chủ thể nào cần thiết. Các vấn đề trên đều phải được trả lời bằng cách khảo sát các thuyết về quản trị quản trị tốt cũng như các lĩnh vực liên quan thay chỉ dừng lại một nỗ lực tối thiểu nhằm giải nghĩa những gì UNDP hay UNESCAP đã diễn đạt

1. “Đồng thuận” là gì:

Ta biết rằng quản trị một quá trình mang tính công cộng, do đó các nguyên tc quản trị tốt cũng phải được xem xét bên ngoài bình diện cá nhân. Trong bối cảnh đó, đồng thuậnthể được tiếp cận theo hai hướng: (i) đồng thuận với cách một hành vi nhân và (ii) đng thuận với cách là một hiện tượng hội

* Đng thuậnnhư một hành vi nhân 

Đồng thuận(consent) theo định nghĩa của từ điển Cambridge cùng ý kiến hoặc cho phép ai đó làm một điều .

Từ điển Oxford (phiên bản dành cho người học) giải thích đồng thuận cho phép làm một việc gì đó, nhất bởi người thẩm quyền. Định nghĩa pháp của đồng thuận có phần chặt chẽ hơn. dụ, từ điển Blacks Law một trong số những từ điển tiếng Anh pháp ảnh hưởng nhất định nghĩa đồng thuận một sự đồng tình về mặt ý chí, chấp nhận một cách tự nguyện với ý chí của người khác. Từ điển này giải thích thêm, đồng thuận là “một hành vi tính, song hành với scân nhắc, khi tâm trí xem xét scân bằng giữa tốt xấu. Như vậy, đặc điểm quan trọng bậc nhất của sự đồng thuận phải dựa trên sự tự nguyện, đồng nghĩa không phải kết quả của sự cưỡng ép, đe dọa, lừa đảo hay nhầm lẫn

Mặc sự đồng thuận phải tự nguyện, nhìn chung người dân bắt buộc phải tuân thủ những yêu cầu của pháp luật; sự phản kháng hợp pháp đối với pháp luật thường chỉ giới hạn trong các hoạt độn bày tỏ ý kiến một cách ôn hòa (không sự đảm bảo về hiệu lực pháp ) hoặc các quy trình chính thức để sửa đổi hoặc bác bỏ hiệu lực của quy phạm pháp luật đó (đảm bảo về hiệu lực pháp ). Tuy nhiên cần lưu ý điều này không đồng nghĩa với việc người dân mặc nhiên phải tuân thủ những quyết định của nhà nước hay chấp nhận các hành vi của nhà nước mà được pháp luật quy định

Ngoài ra, cũng cần hiểu rằng bản thân đồng thuậnđã một động từ; định nghĩa này không yêu cu sự đồng thuận cần phải được biểu lộ bằng một hành động cụ thể nào đó. vậy, về nguyên tắc thì sự đồng thuận ngầm định(implied consent) được thừa nhận. Sự đồng thuận ngầm hiểu ng khá đa dạng về cách thể hiện, dụ như sự im lặng, nh động hoặc không hành động theo đề nghị (không tuyên bố chấp nhận đề nghị). Tuy vậy, sự đồng thuận minh thị quan trọng hơn nhiều đi với quản trị, như sẽ được đề cập dưới đây

* “Đồng thuậnnhư một hiện tượng hội 

Sđồng thuận nguyên tắc đồng thuận hướng tới sự đồng thuận của tập thể, mang tính chất tập thể hơn tính chất nhân; nói cách khác, một hiện tượng diễn ra trong tập thể chứ không phải một hành vi cụ thể của một nhân. Sự đồng thuận đó mang tính chất xã hội. Trong hội học, đồng thuận hội(social consent) thuật ngữ dùng để chỉ sự nhất trí của đa số thành viên của một nhóm về một vấn đề nào đó. Đồng thuận hội được nhận diện dựa trên ý tưởng rằng những suy nghĩ, cảm xúc hành động của 

một người tương tự với những người khác. Tuy nhiên cn phải hiểu rằng không dùng để chỉ sự nhất trí hoàn toàn của mọi người chỉ được dùng để chỉ sự nhất trí mang tính chất phổ quát về mục tiêu chung. Trên khía cạnh triết học, đồng thuận hội được sử dụng để chỉ việc các chính sách, quyết định được đa số thành viên trong hội nhất trí các mức độ khác nhau.* Chính vậy mà sự đồng thuận, với bản chất không chắc chắn và thường chỉ thể định lượng tương đối của , không nên được sử dụng làm thước đo đánh giá sự tham gia của người dân một vấn đề mang tính thủ tục hoàn toàn thể được đo lường cụ thể qua thng . Điều này giúp củng cố luận điểm rằng nguyên tắc tham gia nguyên tắc đồng thuận gần gũi đến đâu cũng nên được xem xét hai nguyên tắc hoàn toàn tách biệt

Đồng thuận hội là kết quả của qtrình đàm phán và thỏa thuận mang tính hội.* Do đó, phải được đo lường thông qua sự đồng thuận được biểu đạt minh thị thay ngầm định, bởi quá trình thương lượng rất khó thể đi đến kết quả nếu phải dựa trên các phán đoán. Nhà nước với vai trò người cầm cân trong quá trình này cũng không thể dự báo một cách chủ quan ý chí của bất kỳ nhóm nào lấy đó làm sở vận dụng thẩm quyền công. Từ đây thể tái khẳng định rằng thực hiện nguyên tắc tham gia tiền đề, điều kiện để thực hiện nguyên tắc đồng thuận

Đồng thuận hội một hiện tượng hội, nhưng cũng bản chất sự gặp gỡ luồng quan điểm khác nhau được thể hiện cả quy nhân lẫn nhóm / tập thể. Điều này rất đáng lưu ý bởi trong khung cảnh Việt Nam, một số quan điểm cho rằng đồng thuận hội thể tồn tại cùng với các khác biệt, miễn sao những khác biệt này không tổn hại lợi ích chung.26 Nếu suy luận một cách máy móc từ đó thì sẽ dễ đi đến kết luận rằng những khác biệt y tổn hạiđến mục tiêu chung tkhông được tôn trọng bảo vệ. Diễn ngôn này có thể bị hiểu sai thành người dân cần phải hy sinh (mức độ nào đó) cho các mục tiêu chung, trong khi đó cốt lõi của sự đồng thuận phải sự tự nguyện

2. Những khía cạnh kỹ thuật khác của nguyên tắc đồng thuận:

* Đồng thuậnvới những mục tiêu nào là cần thiết

Nguyên tắc đồng thuận, theo diễn đạt ca UNDP, yêu cầu sự tôn trọng hướng tới các mục tiêu chung, thể đem lại lợi ích cho tất cả mọi người liên quan.Quan điểm của UNESCAP mang sắc màu thuyết công lợi (utilitarianism) nét hơn khi xác định các mục tiêu quản trị được khuyến khích tính chất mang lại lợi ích lớn nhất cho hột. Quan điểm đó cũng tính bao trùm hơn khi đề cập đến cả những mục tiêu cụ thể trong toàn bộ quá trình đạt được mục tiêu lớn nhất, chung nhất mang lại phúc lợi tổng thể lớn nhất đó.28 

Việc xác định một mục tiêu mang lại lợi ích phổ quát không phải một nhiệm vụ qkhó khăn. Thách thức thực sự nằm chỗ nguyên tắc đồng thuận được xây dựng dựa trên ý tưởng nguyên bản thừa nhận sự kc biệt về lợi ích, nhu cầu hay sự quan tâm của các nhóm khác nhau đòi hỏi sự dung hòa các khác biệt đó. Nói cách khác nguyên tắc này không cho phép sự áp đặt điều đó đi ngược lại với tự do ý chí. Do vậy, cần phải hiểu rng khi ưu tiên một lợi ích này lên trên lợi ích khác thì đồng nghĩa với việc một cuộc đánh đổi đang diễn ra. “Đồng thuậnnghĩa các chủ thể trong hội một mặt đồng ý với mục tiêu chung, mặt khác đồng ý cả với việc hy sinh hoặc (tạm) ngừng theo đuổi những mục tiêu của riêng mình. ràng, người dân thường sẽ chỉ đồng ý với sự đánh đổi đó nếu như những thiệt thòi của họ được đền thỏa đáng. dụ: các tài sản bị trung thu trong lĩnh vực đất đai thì pháp luật nước ta sử dụng thuật ngữ thu hồisẽ được giải thích trong Chương sau) cần được bồi thường một cách tương xứng với giá trị của tài sản đó

Trên góc độ kỹ thuật thể phân chia các mục tiêu được xem xét tnh hai loại: những mục tiêu tổng thể của toàn bộ một tiến trình hay kế hoạch hành động những mục tiêu cụ thể của từng hành động hoặc chuỗi / nhóm hành động thuộc về từng giai đoạn của tiến trình hay kế hoạch. Trong nhiều trường hợp, thể dễ dàng đạt được sự đồng thuận rộng rãi của người dân về các mục tiêu tổng thể, nhưng mục tiêu cụ thể thì không. dụ: nhà nước ban hành quy định về hạn ngạch xuất khẩu gạo để đảm bảo an ninh lương thực trong nước. Việc duy trì nguồn cung gạo cho thị trường nội địa thể được người dân ủng hộ, nhưng việc giới hạn lượng gạo xuất ra thị trường nước ngoài thể bị phản đối. Ngay cả khi biện pháp hạn chế xuất khẩu được ủng hộ thì hạn mức cụ thể được đặt ra cũng thể bị phản đối. Như vậy, định hướng đồng thuận cần phải được vận dụng đối với các mục tiêu mọi hành động, mọi giai đoạn mọi cấp độ của tiến trình quản trị. Điều đó đòi hỏi sự hiểu biết u sắc về lợi ích, nhu cầu mối quan tâm của từng nhóm xã hội. Quan trọng phải xác định được toàn bộ bức tranh của một tiến trình quản trị: chính sách / quyết sách đang xét bao gồm / liên quan quan hệ hội nào? Liên quan đến nhóm xã hội nào? Các nhóm đó những điểm chung, điển riêng biệt nào? Trên sở những hiểu biết như vậy mới thể xác định được những xung đột tiềm tàng, sau đó những ưu tiên cần đạt được. Tóm lại, sự đng thuận cần đạt được hai nội dung: Thứ nhất, những mục tiêu tổng thvà mục tiêu cụ thể của một chính sách; Thứ hai, những lợi ích cần thể được trao đổi cho những mục tiêu đó. thiếu đi bất kỳ nội dung nào trong số này cũng sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả thực hiện nguyên tắc đồng thuận kéo theo đó kết quả thực hiện chính ch

* Đồng thuận” của những ai cần thiết

Mặc không thực sự ghi nhận nguyên tắc đồng thuận, WB vẫn đã đưa ra một góc nhìn rất giá trị về việc những ai thuộc o nhóm không thể gạt ratrong quá trình quản trị. Cụ thể, họ cho rằng như đã trích dẫn quản trị mang bản chất là một quá trình các bên liên quan(stakeholders) cùng nhau đưa ra các quyết sách ảnh hưởng đến họ.? Các bên liên quan được họ định nghĩa nhóm bị ảnh hưởng bởi tích cực hay tiêu cực bởi, hoặc nhóm thể tác động đến, những kết quả của hoạt động can thiệp được đxuất.30 Do đã tự giới hạn khung cảnh của khái niệm lại trong phạm vi những chương trình hoạt động của mình nên WB sử dụng thuật ngữ can thiệp(intervention); tuy nhiên, thể thấy nếu như áp dụng khái niệm này cho bất kỳ một tiến trình quản trị nào thì ta vẫn thấy hạt nhân hợp của

UNDP trong một dự án hợp tác với Trung tâm Thúc đẩy Đào to Nghiên cứu về Tổ chức cộng đồng (CO-TRAIN) đã định nghĩa bên liên quanđược dùng để chỉ các loạichủ thể trong hội thể tham gia vào tiến trình quản trị: chính phủ, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội dân sự, người dân i chung. Cách xác định theo nhóm / loại này không giúp xác định bên liên quantrong một tình huống cụ thể, nhưng lại giúp hiểu hơn về vai trò cách thức tương tác giữa các nhóm. Nhìn chung, nhà nước nắm vai trò điều phối các chủ thể khác trong hội sẽ đóng vai trò phối hợp trong tiến trình quản trị; sự đóng góp của mỗi nhóm chủ thể skhác nhau được quyết định bởi c đặc tính riêng . dụ, các doanh nghiệp sẽ lợi thế về tiền vốn tập trung công nghệ cũng như sự nhạy bén trong việc nhìn ra các hội sinh lời; các tổ chức hội lợi thế về hiểu biết đối với các vấn đề hội, các nhà khoa học lợi thế về kiến thức chuyên sâu trong lĩnh vực cụ thể o đó... Trong khung cảnh quản trị, những người dân bình thường dường như không bất kỳ lợi thế nào đáng kể: họ tham gia quản trị với cách một chủ thể chịu tác động bởi quá trình nhiều hơn tác động vào quá trình. Tiếng nói của người dân thường phải được truyền đạt thông qua các tổ chức mang tính đại diện

Những nhóm càng ít hội điều kiện tác động vào quá trình hoạch định chính sách những nhóm nguyên tắc đồng thuận hướng tới nhất. Sđồng thuận của các nhóm này được ưu tiên hơn bởi lẽ chính họ nhóm dễ bị gạt ra khỏi quá trình ấy nhất, nếu điều đó xảy ra thì quản trị sẽ đánh mất tính cách dân chủ. Một hệ quả khó tránh khỏi những người chưa hội thể hiện sự phản đối ca họ với chính ch thể trở nên bất mãn bày tỏ chính kiến của mình bằng hình thức khác thường cực đoan hơn những phương thức ôn hòa họ đã không được sử dụng

Trong bối cảnh một dự án đầu sử dng đất của người bản địa tại Việt Nam, các bên liên quan thể được xác định gồm (1) nhà nước; (ii) nhà đầu (nhà nước trực tiếp đầu hoặc doanh nghiệp); (iii) người bản địa; (iv) những người chịu tác động gián tiếp và (v) các nhà khoa học. Vị trí, vai trò của mỗi nhóm đối tượng này sẽ được trình bày ràng hơn trong nội dung Chương hai của luận văn

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo