Quyền hạn của VKSND khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật

Theo quy định tại Điều 166 BLTTHS 2015 và Điều 15 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6586

Số điện thoại Luật sư: 058.7999997

Email: luatsu@luatduonggia.vn

Theo quy định tại Điều 166 BLTTHS 2015 Điều 15 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 quy định nhiệm v, quyền hạn của VKSND khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hình s, cụ thể

1. Kiểm sát việc tiến hành các hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ: 

Sau khi khởi tố vụ án hình s, khởi tố bị can, CQĐT tiếp tục tiến hành các hoạt động điều tra để thu thập tài liệu, chứng cứ nhằm chứng minh tội phạm, người phạm tội. Khi CQĐT áp dụng các biện pháp để điều tra, VKS trách nhiệm bảo đảm cho 

mọi biện pháp điều tra phải được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật

Kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi 

Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi một hoạt động điều tra nhằm phát hiện, xem xét, ghi nhận, thu thập, bảo quản các dấu vết, vật chứng trên hiện trường, tử thi góp phần làm sáng tỏ các tình tiết liên quan đến vụ án đó 

Kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi hoạt động của VKS nhằm kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Điều tra viên, các thành viên Hội đồng khám nghiệm những người liên quan để bảo đảm cho việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi của CQĐT được thực hiện đúng qui định của pháp luật nhằm xác định hay không hành vi phạm tội xảy ra, ai người thực hiện hành vi đó, từ đó quyết đnh khởi tố vụ án hình sự hay không. VKS thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi không chỉ nhằm bảo đảm cho hoạt động này được tiến hành khách quan, tn diện đúng pháp luật còn thể nắm các tình tiết liên quan ngay từ ban đầu khi tội phạm xảy ra để làm sở cho việc kiểm sát các hoạt động tiếp theo như: kiểm sát việc khởi tố bị can, hỏi cung bị can, ..

Theo quy định tại Điều 201 Điều 202 BLTTHS 2015 thì trong mọi trường hợp, Điều tra viên phải thông báo cho VKS cùng cấp về thời gian, địa điểm khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi để cử Kiểm sát viên thực hiện kiểm sát việc khám nghiệm

VKS kiểm t khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tthi nhằm đảm việc công tác khám nghiệm thực hiện theo các yêu cầu sau

Việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi phải tuân thđúng các quy định của pháp luật trong suốt quá trình khám nghiệm như thành phần Hội đồng khám nghiệm, trình tự khám nghiệm; các biện pháp phát hiện, ghi nhận, thu thập

bảo quản dấu vết, vật chứng; biên bản khám nghiệm được lập đúng quy định hay không, nội dung biên bản đảm bảo tả đầy đủ, toàn diện các đặc điểm, tình trạng, dấu vết của hiện trường, tử thi hay không?..

Hoạt động khám nghiệm hiện trường, tử thi phải được tiến hành nhanh chóng, khẩn trương, kịp thời hiện trường vụ án dễ bị xáo trộn, nếu CQĐT Hội đồng khám nghiệm không tiến hành hoạt động y một cách khẩn trương, kịp thời thì sẽ không đảm bảo việc phát hiện thu thập được đầy đủ, chính xác các dấu vết, vật chứng để căn cứ chứng minh tội phạm

Hoạt động khám nghiệm hiện trường, tử thi phải đảm bảo tính khách quan. Khi tổ chức khám nghiệm hiện trường, tử thi phải sự chứng kiến của chính quyền địa phương hoặc đại điện các tổ chức đoàn thể trên địa bàn, trong một strường hợp còn cần sự chứng kiến của người làm chứng, người bị hại, bị can... Hoạt động khám nghiệm phải thực hiện theo ý kiến của người chuyên môn, Điều tra viên không được áp đặt ý kiến của mình hoặc chỉ đạo người có chuyên môn thực hiện việc khám nghiệm

Hot động khám nghiệm hiện trường, tử thi phải toàn diện. Hiện trường vụ án tử thi để lại rất nhiều dấu vết, vật chứng. Điều tra viên, Kiểm sát viên phải kinh nghiệm nghiệp vụ giỏi để định hướng khám nghiệm hiện trường từ đầu, tìm kiếm, thu thập những dấu vết ? Nếu việc khám nghiệm được thực hiện qua loa, sài, bỏ sót các dấu vết, vật chứng sảnh hưởng nghiêm trọng đến quá tnh điều tra, giải quyết vụ án. Hiện trường vụ án và tử thi theo thời gian sẽ bị tác động bởi các yếu tố chủ quan khách quan nên việc khám nghiệm lại sẽ không thể thực hiện được hoặc thực hiện lại thì cũng không đảm bảo giá trị ý nghĩa trong việc chứng minh ti phạm

| Như vậy, VKS thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động điều tra, hạn chế những thiếu sót, vi phạm của CQĐT ngay từ đầu để sở cho quá trình tiến hành tố tụng vụ án hình sự

Kiểm sát việc hỏi cung bị can 

Kiểm sát việc hỏi cung bị can là hoạt động của Kiểm sát viên sử dụng các quyền năng pháp độc lập để kiểm sát việc tuân theo pháp luật của điều tra viên trong quá trình hỏi cung bị can nhằm bảo đảm việc hỏi cung được tiến hành một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ và đúng pp luật

Hỏi cung bị can hoạt động điều tra nhằm thu thập chứng cứ từ lời khai của bị can. Đây một hoạt động tố tụng quan trọng vậy KSV phải tiến hành kiểm sát chặt chẽ việc hỏi cung bị can thông qua hai phương thức: Tham gia trực tiếp buổi hỏi cung của Điều tra viên hoc nghiên cứu biên bản hỏi cung. Qua nghiên cứu biên bản hỏi cung, nếu thấy chưa được chứng cứ buộc tội cũng như các chứng cứ xác đnh không tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can hoặc chưa phân hóa làm được vai trò của từng bị can khi nhiều đối tượng cùng tham gia thực hiện hành vi phm tội, tVKS cần yêu cầu CQĐT hỏi bổ sung bị can để làm các vấn đề trên

Lần đầu tiên, BLTTHS Việt Nam ghi nhận việc ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh hoạt động hỏi cung bị can, cụ thể tại BLTTHS năm 2015 quy định

Việc hỏi cung bị can tại sở giam giữ hoặc tại trụ sở quan điều tra, quan được giao nhiệm vtiến hành một số hoạt động điều tra phải được ghi âm hoặc ghi hình âm thanh. Việc hỏi cung bị can ti địa điểm khác được ghi âm hoặc ghi hình âm thanh theo yêu cầu của bị can hoặc của cơ quan, người thẩm quyền tiến hành tố tụng

Trên sở quy định này, Thông liên tịch số 03/2018/TTLTBCA VKSNDTCTANDTCBQP ny 01/02/2018 đã hướng dẫn về trình tự, thtục thực hiện ghi âm hoặc ghi hình âm thanh; sử dụng, bảo quản, lưu trkết quả ghi âm hoặc ghi hình âm thanh trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Để hoạt động hỏi cung bị can được tiến hành khách quan, đúng pháp luật thì VKS phải chủ động giám sát hoạt động hỏi cung của CQĐT về trình tự, thủ tục tiến hành cũng như về nội dung hỏi cung bị can. Căn cứ pháp luật để VKS thc hiện việc kiểm t hoạt động hỏi cung của CQĐT được quy định Luật Tổ chức VKSND năm 2014; các quy định của BLTTHS năm 2015, nổi bật quy định tại khoản 01 Điều 183 về việc thông báo về hoạt động hỏi cung bị can cho KSV

Việc hỏi cung bị can do Điều tra viên tiến hành ngay sau khi có quyết đnh khởi tố bị can. thể hỏi cung bị can tại nơi tiến hành điều tra hoặc ti nơi của người đó. Trước khi hỏi cung bị can, Điều tra viên phải thông báo cho Kiểm sát viên và người bào chữa thời gian, địa điểm hỏi cung. Khi xét thấy cần thiết, Kiểm sát viên tham gia việc hỏi cung bị can

Theo Điều 28, Quy chế tạm thời công tác THQCT, kiểm sát việc khởi tố, điều tra truy tố, khi thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động hỏi cung bị can, VKS bám sát các nội dung sau

+ Hỏi cung bị can phải được tiến hành ngay sau khi quyết định khởi tố bị can. Nếu qua kiểm sát thấy CQĐT tiến hành hỏi cung bị can trước khi quyết định khởi tố bị can hoặc trong lần hỏi cung lần đầu ĐTV chưa giải thích cho bị can biết quyền nga vụ của bị can theo quy đnh ti Điều 60 của BLTTHS (thể hiện trong biên bản hỏi cung) thì đây những vi phạm nghiêm trọng trong TTHS, VKS phải yêu cầu CQĐT hủy bỏ, khắc phục kết quả hỏi cung đó thực hiện quyền kiến nghị

+ Qua kiểm sát nội dung các biên bản hỏi cung bị can, nếu thấy chưa làm được chứng cứ buộc tội cũng như chứng cứ gỡ tội các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ TNHS, miễn TNHS của bị can hoặc CQĐT chưa phân hóa làm được các vai trò của từng bị can khi nhiều đối tượng cùng tham gia thực hiện nh vi phạm tội thì VKS cần yêu cầu CQĐT hỏi bổ sung bị can để làm các vấn đề trên bằng các hình thức như: Trực tiếp yêu cầu trong quá trình hỏi cung bị can cùng ĐTV hoặc yêu cầu thông qua việc ban hành Yêu cầu điều tra

+ VKS đảm bảo các bản cung CQĐT tiến hành hỏi cung bị can phải làm được hành vi phạm tội của bị can đã bị khởi tố, những mâu thuẫn trong lời khai của bị can cần phải được phân tích làm trên sở tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án để định hướng những biện pháp điều tra tiếp theo. Trên sở việc kiểm t các tài liệu điều tra được cung cấp từ CQĐT theo quy định tại Điều 88 của BLTTHS, KSV phải giám sát chặt chẽ, trích cứu theo i diễn biến lời khai của bị can để đảm bảo chất lượng trong công tác này. Ngoài ra, trong những vụ án người phm tội người chưa thành niên tVKS phải chú ý việc tiến hành hoạt động này phải thông báo trước thời gian, địa điểm hỏi cung cho người bào cha, người đại diện, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị can. Thời gian hỏi cung đối với bị can người chưa thành niên không q02 lần trong 01 ngày mỗi lần không quá 02 giờ, trừ một số trường hợp theo quy định tại Điều 421 của BLTTHS. Tóm lại, kiểm sát hoạt động hỏi cung bị can này phải chú trọng tính khách quan, trung thực đúng quy định pháp luật về hình thức. Kết quả hỏi cung bị can cần phải được KSV theo i chặt chẽ nhằm xem xét tính phù hợp với các chứng cứ khác đã thu thập. Nếu nhận thấy lời khai bị can không trung thực, hoặc dấu hiệu bị cưỡng ép, không giá trị chứng minh tội phạm thì VKS cần những biện pháp như trực tiếp hỏi cung bị can nhằm sớm can thiệp, khắc phục những khó khăn trong việc hỏi cung bị can cũng như giải quyết vụ án. Chức năng kiểm sát hoạt động hỏi cung bị can góp phần rất quan trọng vào việc truy cứu TNHS đối với người đã thực hiện nh vi phm tội

Kiểm sát hoạt động hỏi cũng phải bảo đảm được ba yếu tố khách quan, trung thực đúng pháp luật. Kết quả lời khai của bị can phù hợp với các chứng cứ khác đã thu thập được của vụ án thì được coi chứng cứ. Do vậy, kiểm sát việc hỏi cung bị can của VKS rất quan trọng, nhằm góp phần giải quyết vụ án một cách đúng đắn, khách quan

Kiểm sát vic ly lời khai 

Kiểm sát việc lấy lời khai bao gồm kiểm sát việc lấy lời khai người làm chứng, lấy lời khai người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự người quyền lợi, nghĩa vliên quan đến ván

Lời khai người làm chứng một nguồn chứng cứ quan trọng của vụ án hình sự. Thông qua việc lấy lời khai của người làm chứng, Điều tra viên, Kiểm sát viên thể nắm được diễn biến của hành vi phạm tội, biết được các mối quan hệ, tính cách của bị can để từ đó xác định phương hướng, kế hoạch điều tra tiếp theo

Khi kiểm sát việc lấy lời khai của người bị hại, nếu thấy còn điểm nghi ngờchưa hoặc còn thiếu vấn đề nào đó chưa được Điều tra viên làm sáng tỏ thì VKS phải yêu cầu Điều tra viên tiến hành ly lời khai bsung của người bị hại

Khi kiểm t các hot động lấy lời khai của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, phải yêu cầu Điều tra viên tạo điều kiện cho họ đưa ra những đồ vật, tài liệu những yêu cầu liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của họ, nhất đối với nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự

Kiểm sát việc đổi chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra 

Đối chất, nhận dạng thực nghiệm điều tra những hoạt động điều tra quan trọng cần thiết nhằm giải quyết những mâu thuẫn trong các lời khai của những người tham gia tố tụng hoặc để xác định người, vật, ảnh của một người nào đó liên quan tới vụ án. Qua việc nhận dạng, đối chất thực nghiệm điều tra sẽ góp phần làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án

Trong quá trình KSĐT, nếu thấy mâu thuẫn trong lời khai giữa bị can, người bị hại, người làm chứng, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, yêu cầu điều tra viên tiến hành việc đối chất. Trong quá trình kiểm sát điều tra, nếu thấy cần thiết phải nhận dạng người hay đồ vật thì yêu cầu điều tra viên tiến hành việc nhận dạng. BLTTHS năm 2015 đã sửa đổi, bsung về quy định này trong đó bắt buộc VKS phải cKSV tham gia hoạt động đối chất, nhận dạng. Tại khoản 1 Điều 189 của BLTTHS năm 2015 đã quy định cụ thể

Trước khi tiến nh đổi chất, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp để cử Kiểm sát viên kiểm sát việc đối chất. Kiểm sát viên phải mặt để kiểm sát việc đối chất. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì 

ghi vào biên bản đối chất [24]. Khoản 1 Điều 190 BLTTHS m 2015 quy định

Trước khi tiến hành nhận dạng, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp để cử Kiểm sát viên kiểm t việc nhận dạng. Kiểm sát viên phải mặt để kiểm sát việc nhận dạng. Nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì ghi vào biên bản nhận dạng

Chính quy định này, đã yêu cầu nâng cao chất lượng của đối chất với việc tham gia của KSV hoạt động đối chất này. Khi nghiên cứu các biên bản đối chất, KSV cần chú ý một số vấn đkhác như

+ Kiểm tra tính hợp pháp của việc đối chất như: Đối tượng tham gia đối chất ai, trước khi tiến hành đối chất ĐTV đã giải thích cho họ các quyền, nghĩa vụ của mình chưa; đã hỏi về mối quan hệ gia những người tham gia đối cht hay chưa ? ĐTV đã đọc lại biên bản đối chất cho những người mặt nghe chưa? Việc ghi biên bản có sửa chữa, ghi thêm và đúng quy định chưa

+ Kiểm tra về nội dung của biên bản đối chất: đã giải quyết các mâu thuẫn về lời khai hay chưa? Những người tham gia đối chất đã trả lời các tình tiết cần làm như thế nào, đã làm nguyên nhân những lời khai trước đây? Việc giải quyết mâu thuẫn sở hay không, phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác hay không

Nếu phát hiện thấy việc đối chất, nhận dạng của CQĐT vi phạm, thì tuỳ từng trường hợp cụ thể thể yêu cầu điều tra viên khắc phục hoặc báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng ra văn bản yêu cầu CQĐT khắc phục

Đối với những vụ án cần thực nghiệm điều tra để kiểm tra xác minh thêm về những tình tiết ý nghĩa đối với vụ án thì yêu cầu điều tra viên thực nghiệm điều tra. Qua hoạt động kiểm sát việc thực nghiệm điều tra, nếu phát hiện thấy điều tra viên không thực hiện đúng yêu cầu hoặc vi phạm pháp luật thì phải kịp thời báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng văn bản yêu cầu CQĐT khắc phục

Kiểm sát việc khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản 

Khám xét một trong những biện pháp tố tụng hình sự ý nghĩa quan trọng giúp cho các quan tiến hành tố tụng phát hiện, thu thập các tài liệu, vật chứng... để chứng minh tội phạm người phạm tội. Nói cách khác, đây chính hoạt động điều tra nhằm tìm kiếm dấu vết tội phạm, vật chứng hoặc những đồ vật, tài liệu khác liên quan đến vụ án

BLTTHS năm 2015 quy định thêm trường hợp quan thẩm quyền thể tiến hành khám phương tiện, tài liệu, dữ liệu điện tử. Mặc BLTTHS năm 2003 không quy định nhưng tn thực tế hoạt động khám t phương tiện, i liệu, dữ liệđiện tử vẫn được các quan thẩm quyền tiến hành. Tuy nhiên trước đây, việc phát hiện, thu giữ, quá trình phản ánh các thông tin liên quan đến các đối tượng khám xét này nhất ra lệnh khám xét, tiến hành lập biên bản khám xét từng trường hợp cụ thể gặp nhiều khó khăn. Quy định mới này, tạo sự thông thoáng trong việc áp dụng quy định về khám xét trong tố tụng hình sự

Hoạt động kiểm sát việc khám xét được thực hiện theo các quy định tại các Điều 192, 193, 194, 195, 196, 198 BLTTHS 2015, Điều 15 Luật Tổ chức VKSND năm 2015, Quy chế THQCT KSĐT các quy định pháp luật hiện hành. Theo đó, khi thực hiện kiểm sát việc khám xét, VKS cần đảm bảo. Chỉ khi căn cứ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự và có lệnh của người thẩm quyền thì mới được tiến hành khám xét. Khi khám xét, phải bảo đảm các trình tự, thủ tục theo luật định phải bảo đảm n trọng các quyền lợi ích hợp pháp của công n. Trong trường hợp CQĐT tiến nh khám xét khẩn cấp, nếu thấy việc khám xét không căn cứ không hợp pháp thì VKS yêu cầu CQĐT khắc phục ngay, đồng thời ra quyết định hủy bỏ kết quả khám xét

2. Kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án: 

Hồ điều tra vụ án hình sự tập hợp toàn bộ những tài liệu, chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra vụ án theo quy định của BLTTHS, do Điều tra viên lập nhằm chứng minh hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội những tình tiết khác liên quan đến vụ án

Thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm sát việc lập hồ vụ án của CQĐT nhằm đảm bảo cho các tài liệu, chứng cứ được thu thập một cách kịp thời, khách quan, đầy đủ, đúng quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Thực hiện hoạt động kiểm sát việc lập hồ sợ nhằm đảm bảo tính khách quan, đầy đủ, đúng đắn của các tài liệu chứng cứ trong hồ vụ án hình sự, đồng thời giúp cho việc bám sát quá trình điều tra, nắm vững hồ ván ngay trong quá trình thu thập chứng cứ, kịp thời đưa ra các yêu cầu điều tra đề xuất việc giải quyết một cách chính xác các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm t điều tra vụ án bảo đảm việc điều tra vụ án được tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật

Khi kiểm t việc lập hồ vụ án, Kiểm sát viên phải kiểm sát cả về trình tự, thủ tục tố tụng nội dung của các tài liệu trong hvụ án theo quy định của pháp luật, đặc biệt tính toàn diện, khách quan của các tài liệu chứng cứ xác định tội phạm trong vụ án. Những sai sót trong việc lập hồ vụ án như vi phạm về trình tự, thủ tục, thêm, bớt, làm sai lệch hồ , ... phải được phát hiện yêu cầu CQĐT khắc phục kịp thời. Những cán bộ điều tra sai phạm cần phải được xử nghiêm theo quy định pháp luật

Bên cạnh đó, kiểm t việc lập hồ vụ án của CQĐT cũng một nhiệm vụ quan trọng của VKSND, nhằm đảm bảo cho các tài liệu, chứng cứ được thu thập một cách kịp thời, kch quan, đầy đủ, đúng quy định, từ đó mới căn cứ chứng minh hành vi phạm tội, người phạm ti các tình tiết liên quan đến vụ án. Đồng thời, kiểm sát việc lập hồ vụ án còn giúp kiểm sát viên bám sát quá trình điều tra vụ án, nắm vững hồ , từ đó, kịp thời đề ra các yêu cầu điều tra cần thiết để giải quyết vụ án

Thực tiễn cho thấy, khi hết thời hạn điều tra, thường xảy ra tình trạng CQĐT chuyển hồ vụ án lên cho VKS đề nghị truy tố những hồ chưa hoàn thiện, đầy đủ về tài liệu chứng cứ như: chưa trích lục tiền án, tiền sự của bị can; biên bản ghi lời khai, hỏi cung chưa chữ của Điều tra viên; chưa biên bản đánh giá chứng cứ giữa Điều tra viên Kiểm sát viên; chưa điền đầy đủ thông tin vào các biên bản; thời hạn tạm giam vừa hết (trái với quy định chuyển trước 05 ngày)... Do vậy, khi kiểm sát việc lập hồ , Kiểm t viên phải kiểm t chặt chẽ, đảm bảo tài liệu trong hồ được đóng dấu bút lục của CQĐT m theo bảng đầy đủ c tài liệu

3. Kiểm sát việc áp dụng thay đổi huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế: 

Các biện pháp ngăn chặn các biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự tác động đến các quyền con người, quyền bản của công dân, đặc biệt các biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam. Để hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng oan sai trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, BLTTHS 2015 quy định vai trò của VKSND trong việc quyết định áp dụng, thay đổi hủy bỏ biện pháp ngăn chặn nhằm đảm bảo việc bắt, giữ, giam người căn cứ, đúng pháp luật, góp phần bo vệ quyền tự do, dân chủ của công dân

Điều 109 BLTTHS m 2015 quy định các quan tiến hành tố tụng thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn gồm: Giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người (bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy , bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người bị yêu cầu dẫn độ), tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi trú, tạm hoãn xuất cảnh. Nhằm hạn chế thấp nhất tình trạng giữ người, bắt người, tạm giữ, tạm giam, trong giai đoạn điều tra BLTTHS quy định vai trò quyết định trong việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn thuộc VKS nên việc bắt, giam, giữ, gia hạn tạm giữ, tạm giam bị can đều phải được VKS xem xét, phê chuẩn đối với từng trường hợp, bảo đảm việc bắt, giữ, giam người căn cứ, đúng pháp luật

Trong quá trình điều tra vụ án hình sự, căn cứ vào kết quđiều tra, điều kiện sự cần thiết của việc áp dụng, các biện pháp ngăn chặn đang được áp dụng thể được hủy bỏ hoặc thay thế bằng biện pháp ngăn chn khác. Để tránh việc tùy tiện trong việc hủy bỏ, thay thế biện pháp ngăn chặn, VKS cần phải kiểm t chặt chẽ, nhất là những biện pháp do VKS phê chuẩn để đảm bảo việc hủy bỏ, thay thế các biện pháp ngăn chặn cần thiết, căn cứ không ảnh hưởng đến hoạt động điều tra. 

Kiểm sát hoạt động bắt, giữ ngườ

Việc bắt, giữ người được quy định tại Điều 110, 111, 112, 113 BLTTHS năm 2015 gồm: giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, người đang bị truy bắt bị can, bị cáo để tạm giam bắt người bị yêu cầu dẫn độ

Kiểm sát việc bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp: Đây trường hợp pháp luật cho phép CQĐT bắt người trước, đề nghị VKS phê chuẩn sau. Do đó, hoạt động kiểm sát chỉ được thực hiện sau khi CQĐT đã thực hiện xong việc giữ người khẩn cấp. Khi thực hiện việc kiểm sát, Kiểm sát viên cần xem xét hồ liên quan đến việc giữ người khẩn cấp để xét phê chuẩn. Theo quy định ti khoản 5 Điều 110 BLTTHS 2015, trong mọi trường hợp, việc giữ khẩn cấp phải được báo ngay cho VKS cùng cấp bằng văn bản kèm theo tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp để xét 

phê chuẩn. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận được hồ đề nghị xét phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, VKS phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Trường hợp VKS quyết định không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì người đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, CQĐT đã nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp phải trả tdo ngay cho người bị giữ [24]

Kiểm sát bắt bị can, bị cáo để tạm giam: Khi CQĐT áp dụng biện pháp bắt bị can, bị cáo để tạm giam thì lệnh bắt tạm giam phải được VKSND phê chuẩn trước khi thi hành. Để việc phê chuẩn chính xác, đúng pháp luật, VKS cần phi kiểm sát chặt chẽ tính căn cứ tính hợp pháp trong việc áp dụng biện pháp bắt này. Khi kiểm sát, cần chú ý đến điều khoản bị can bị khởi t, để xem xét, theo quy định, được phép bắt tạm giam hay không. VKS cần phải kiểm sát cht chẽ về thẩm quyền áp dụng, đối tượng bị áp dụng, thời hạn áp dụng nhằm đảm bảo ngăn chặn khng xâm phạm đến các quyền nhân thân của công dân nhưng đồng thời không gây cản trở cho hoạt động điều tra của CQĐT

Kiểm sát việc áp dụng biện pháp tạm giữ 

Biện pháp tạm giữ biện pháp ngăn chặn nhằm cách ly một người khỏi hội trong một thời gian nhất định để phục vụ cho quá trình điều tra, xác minh, do vậy ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do, thân thể của con người. Trách nhiệm của VKS phải bảo đảm không để xảy ra việc áp dụng biện pháp tạm gioan sai, người bị tạm giữ phải được an toàn

Sau khi nhận được quyết định tạm giữ của quan có thẩm quyền, Kiểm t viên phải kiểm tra tính căn cứ của việc ra quyết định tạm giữ. Nếu xét thấy việc tạm giữ không cần thiết hoặc không căn cứ, Kiểm sát viên đề xuất Viện trưởng ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ yêu cầu quan ra quyết định trả tự do ngay cho người bị tạm giữ

Trường hợp hết hạn tạm giữ vẫn chưa xác định được tội phạm, người phạm tội, xét cần thêm thời gian để kiểm tra, xác minh, củng cố tài liệu, chứng cứ thì CQĐT phải làm văn bản gửi tới VKS cùng cấp xin gia hạn tạm giữ, nhận được văn bản xin gia hạn tạm giữ của CQĐT. Sau khi nghiên cứu, kiểm tra đánh giá để xác định việc xin gia hạn tạm giữ của CQĐT có căn cứ cần thiết hay không để báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng ra quyết định phê chun hoặc không phê chuẩn việc gia hạn tạm giữ. Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhn hồ đề nghị gia hạn tạm giữ, VKS phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Trong khi tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì CQĐT, quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ, trường hợp đã gia hạn tạm giữ thì VKS phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ

Kiểm t việc áp dụng biện pháp tạm giam 

Khi tiến nh kiểm sát việc áp dụng biện pháp tạm giam bị can để điều tra, VKS có trách nhiệm đảm bảo: Biện pháp tạm giam chỉ thể được áp dụng đối với bị can phạm tội trong những trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng; Bị can phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng BLHS quy định hình phạt trên hai năm căn cứ cho rằng người đó thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc thể tiếp tục phạm tội. Tức quan VKS phải xác định tính căn cứ để áp dụng biện pháp tạm giam. Ngoài ra để đảm bảo tính hợp pháp của việc tạm giam, xem xét thm quyền ra lệnh tạm giam. Do vậy, khi nhận được lệnh tạm giam bị can của CQĐT, KSV phải chủ động, khẩn trương nghiên cứu vụ án như: Xem xét các tài liệu, chứng cứ, đánh giá nhân thân của người phạm tội... so sánh đối chiếu với lệnh tạm giam, thời hạn tạm giam với các quy định của pháp luật để báo cáo Viện trưởng, Phó Viện trưởng phê chuẩn hoặc không phê chuẩn lệnh tạm giam của CQĐT. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được lệnh tạm giam, đề nghị xét phê chuẩn hồ liên quan đến việc tạm giam, VKS phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. VKS phải hoàn trả hồ cho CQĐT ngay sau khi kết thúc việc xét phê chuẩn

Trường hợp hết hạn tạm giam vẫn chưa chứng minh được tội phạm, xét thấy cần thêm thời gian để điều tra thì CQĐT làm văn bản gửi VKS xin gia hạn tạm giam. Nhận được văn bản của CQĐT, KSV phải nghiên cứu kiểm tra để xác 

định việc gia hạn tạm giam căn cứ cần thiết không đphê chuẩn. Trong quá trình tạm giam để điều tra vụ án hình s, VKS trách nhiệm thường xuyên kiểm tra, xem xét để phát hiện vi phạm pháp luật, nếu xét thấy việc tạm giam không còn cần thiết nữa thì yêu cầu CQĐT áp dụng biện pháp ngăn chặn khác hoặc trả lại tự do cho người bị tạm giam

Kiểm t việc áp dụng các biện pháp cấm đi khỏi nơi trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản gtrị để bảo đả

Đây các biện pháp ngăn chặn tính cưỡng chế thấp hơn các biện pháp ngăn chặn nêu trên, vậy khi kiểm sát các hoạt động này của CQĐT, Kiểm sát viên cần chú ý đến tính căn cứ của việc áp dụng, đồng thời xem xét việc áp dụng gây ảnh hưởng gì cho hoạt động điều tra hay không. Khi áp dụng các biện pháp này, trong hồ áp dụng thường các giấy tờ, tài liệu thể hiện sự cam kết, bảo đảm sự tham gia tố tụng của bị can cá nhân, tổ chức trách nhiệm quản bị can tại ngoại. Do đó, Kiểm sát viên cần kiểm tra tính đầy đủ của các tài liệu này như giấy cam đoan của bị can, thông báo với chính quyền địa phương, biên bản bàn giao bị can cho chính quyền địa phương, đơn xin bảo lĩnh của người bảo lĩnh, ..

Kiểm sát thời hạn điều tra, tạm đình chỉ điều tra, đình chỉ điều tra 

Hoạt động điều tra chỉ được tiến hành trong một thời hạn điều tra cụ thể cho từng loại tội phạm theo mức độ nghiêm trọng của tội phạm theo quy định tại Điều 172 BLTTHS 2015. Để kiểm sát tốt thời hạn điều tra, kiểm sát viên cần theo dõi tiến trình điều tra, kịp thời nhắc nhở Điều tra viên phải nhanh chóng tiến hành các biện pháp điều tra để đảm bảo về thời hạn. Khi nhận được đề nghị gia hạn điều tra, Kiểm sát viên cần nghiên cứu hồ vụ án, đánh giá đúng tính chất, mức độ nghiêm trọng của vụ án tính tích cực trong điều tra của CQĐT để đề nghị Lãnh đạo VKS thẩm quyền gia hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 172 BLTTHS 2015

Khi kiểm sát tạm đình chỉ điều tra, kiểm sát viên cần chú ý đến tính căn cứ của quyết định. Đối với các trường hợp tạm đình chỉ do bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo, cần kiểm tra hồ bệnh án để xác định chính xác nhằm tránh tình trạng lạm dụng đkéo dài vụ án. Đối với trường hợp tạm đình chdo không xác định được bị can đang đâu, Kiểm sát viên phải kiểm sát việc truy của CQĐT, đảm bảo phải ban hành quyết định truy , sau đó mới được tạm đình chỉ điều tra. Đồng thời, theo dõi thường xuyên các trường hợp tạm đình chỉ để xem xét việc phục hồi khi các căn cứ tạm đình chỉ không còn na

Kiểm sát đình chỉ điều tra: Để kiểm sát tốt việc đình chỉ điều tra của CQĐT, đòi hỏi VKS phải nghiên cứu kỹ hồ thận trọng kiểm tra căn cứ áp dụng đđình chỉ được quy định ti khoản 1 Điều 230 BLTTHS 2015. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được quyết đnh đình chỉ điều tra của CQĐT, nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra căn cứ thì VKS phải trả lại hồ vụ án cho CQĐT giải quyết theo thẩm quyền; nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra không căn cứ thì hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra của yêu cầu CQĐT phục hổi điều tra; nếu thấy đủ căn cứ để truy tố thì hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra ra quyết định truy tố [24]

4. Kiểm sát hoạt động tham gia tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng: 

Theo quy định của BLTTHS, người tham gia tố tụng trong giai đoạn điều tra gồm có: người bị tạm giữ, bị can, người bị hại, người làm chứng, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người giám định, … Khi tham gia tố tụng, họ phải thực hiện đầy đủ các quyền nghĩa vụ được quy định cụ thể tại chương IV BLTTHS năm 2015. Khi người tham gia tố tụng hành vi vi phạm pháp luật gây cản trở quá trình điều tra, giải quyết vụ án hình sự hoặc hành vi vi phạm pháp luật khác thì VKSND quyền yêu cầu hoặc kiến nghị các quan, tổ chức, nhân thẩm quyền xử nghiêm minh

thể hiểu, hoạt động kiểm sát việc tham gia tố tụng việc VKS kiểm sát việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, mặt khác kiểm sát việc đảm bảo các quyền lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng như: người bị tạm giữ quyền biết do bị tạm giữ, có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa, được giải thích về quyền nghĩa vụ, bị can quyền biết mình bị khởi ttội , .... Nhiệm vụ này được VKS thực hiện thông qua việc xét khiếu nại, tố cáo giải quyết yêu cầu của người tham gia tố tụng; trực tiếp tiến hành hoặc mặt để kiểm sát một số hoạt động điều tra; yêu cầu điều tra viên giải thích bảo đảm thực hiện các quyền nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng trong các hoạt động điều tra; xem xét cấp giấy chứng nhận bào chữa... Bên cạnh đó, trong quá trình KSĐT, VKS thực hiện việc kiểm sát việc hỏi cung bị can, lấy lời khai người bị hại, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự; bảo đảm cho họ quyền đưa ra đồ vật, tài liệu những yêu cu của mình nhằm làm vụ án. Quá trình giải quyết vụ án, khi thuộc trường hợp bắt buộc phải người bào chữa theo quy định ti Điều 72 BLTTHS 2015, bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa, VKS yêu cầu cử quan thẩm quyền cử người bào chữa nhằm bảo đảm quyền lợi ích của họ

5. Kiểm sát tính hợp pháp của các quyết định tố tụng mang tính chất giải quyết vụ án: 

Việc ra quyết định khởi tố, tiến hành điều tra việc xác định về mặt pp một con người cụ thể đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho hội được coi tội phạm. Điều này sẽ trực tiếp hạn chế một số quyền lợi ích hợp pháp thuộc về nn tn của người bị khởi tố, điều tra. Do vậy, để nhằm hạn chế những vi phạm pháp luật của CQĐT trong việc tiến hành điều tra, bảo đảm việc điều tra căn cứ, đúng người, đúng tội, VKS cần phải kiểm t chặt chẽ các quyết định tố tụng trong giai đoạn điều tra của CQĐT. Để hoạt động kiểm sát điều tra được chặt chẽ đúng với quy định của pháp luật, trước hết VKS phải nghiên cứu, kiểm tra các văn bản, tài liệu, chứng cứ trong hồ điều tra của CQĐT, xem các tài liệu chứng cứ đó khách quan, toàn diện, đầy đủ để xác định được người đó đã thực hiện nh vi phạm tội hay không

Quá trình kiểm t điều tra, VKSND căn cứ vào các quy định pháp luật để tiến hành kiểm tra tính hợp pháp, tính căn cứ của các quyết định, hành vi tố tụng của CQĐT như quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, quyết định tạm đình chỉ điều tra, lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lệnh tạm giam, gia hạn tạm giữ,... Nếu các quyết định căn cứ hợp pháp thì VKS sẽ ra quyết định phê chun để thi hành ngược lại nếu thấy các quyết định là không căn cứ và không hợp pháp, VKS sẽ quyết định không pchuẩn hoặc hủy bỏ quyết định tố tụng trái pháp luật, đồng thời yêu cầu CQĐT các quan được giao tiến nh một số hoạt động điều tra chấm dứt ngay các hoạt động tố tụng. Từ đó, VKS tiến hành khắc phục trực tiếp những thiếu sót, yêu cầu khắc phục những vị phạm của CQĐT, quan được giao nhiệm vụ tiến nh một số hoạt động điều tra

Kiểm tra tính hợp pháp của quyết định tố tụng việc xem xét các vấn đề như thẩm quyền, về thời hạn, nội dung hình thức đã đúng quy định pháp luật hay chưa,.... Nếu qua kiểm sát, thấy chưa căn cứ hoặc vi phạm thẩm quyền thì VKS yêu cầu các quan ra quyết định đó biện pháp khắc phục. Để kiểm t tính hợp pháp đối với các quyết định ca CQĐT, VKS phải sử dụng những quyền năng mà pháp luật cho phép như quyền yêu cầu CQĐT chuyển hồ , tài liệu chứng cứ để thực hiện việc kiểm sát, quyền yêu cầu CQĐT khắc phục các vị phạm trong hoạt động điều tra một vụ án cụ thể, quyền kiến nghị CQĐT biện pháp khắc phục, phòng ngừa đối tội phạm, .... 

6. Giải quyết tranh chấp thẩm quyền điều tra: 

Điều 163 BLTTHS 2015 quy định về thẩm quyền điều tra của các quan điều tra chuyên trách điều tra tội phạm quan tiến hành tố tụng. Theo điều luật này thì CQĐT được tổ chức trong Công an nhân dân, trong Quân đội nhân dân VKSND tối cao

CQĐT trong Công an nhân dân gồm quan An ninh điều tra quan Cảnh t điều tra. quan An ninh điều tra được tổ chức cấp Trung ương cấp tỉnh. quan Cảnh sát điều tra được tổ chức cấp Trung ương, cấp tỉnh cấp huyện

Trong Quân đội nhân dân CQĐT quân sự và CQĐT an ninh quân đội. CQĐT quân sự được tổ chức Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục, Quân khu, Quân đoàn, Quân chủng, Binh chng, Binh đoàn, Bộ lệnh Bộ đội biên phòng CQĐT hình sự khu vực. CQĐT An ninh quân đội được tổ chức Bộ Quốc phòng, Quân khu, Quân chủng, Blệnh Bộ đội biên phòng

CQĐT của VKSND tối cao bao gồm: Cục điều tra thuộc VZKSND tối cao Phòng điều tra thuộc VKS quân sự Trung ương

Thẩm quyền điều tra tội phạm không chỉ căn cứ vào loi CQĐT, căn cứ vào phân cấp trong từng loại còn phải căn cứ vào nơi xảy ra tội phạm. Quy định chung CQĐT thẩm quyền điều tra những vụ án xảy ra trên địa phận của mình. Trong trường hợp không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì việc điều tra thuộc thẩm quyền của CQĐT nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can trú hoặc bị bắt

Khi tranh chấp về thẩm quyền điều tra thì VKS trách nhiệm giải quyết theo quy định như sau

Tranh chấp về thẩm quyền điều tra giữa các CQĐT cùng cấp do Viện trưởng VKS cấp trên trực tiếp giải quyết. Tranh chấp thẩm quyền điều tra của quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra do VKS thẩm quyền giải quyết

Tranh chấp vthẩm quyền điều tra giữa các CQĐT cấp tỉnh, giữa các CQĐT quân sự cấp quân khu do Viện trưởng VKSND tối cao, Viện trưởng VKS quân sự trung ương giải quyết. Tranh chấp về thẩm quyền điều tra giữa các CQĐT cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau, giữa các quan điều tra quân sự khu vực thuộc c quân khu khác nhau do Viện trưởng VKSND cấp tỉnh, Viện trưởng VKS quân scấp quân khu nơi đầu tiên phát hin tội phm giải quyết

Tranh chấp về thẩm quyền điều tra giữa CQĐT của Công an nhân dân, CQĐT trong Qn đội nhân dân và CQĐT Viện kiểm t nhân dân tối cao do Viện trưởng VKSND tối cao giải quyết

Trong trường hợp cần thiết, VKS đề nghị CQĐT thẩm quyền yêu cầu quan được giao nhiệm vụ tiến hành một shoạt động điều tra chuyển ngay hồ vụ án để trực tiếp điều tra. Các yêu cầu của CQĐT giá trị bắt buộc thi hành đối với các quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo