Quyền đối với bất động sản liền kề là gì? Đặc điểm, phân loại

Quyền đối với bất động sản liền kề là quyền của chủ sở hữu bất động sản trong điều kiện do pháp luật quy định hoặc được xác lập thông qua thỏa thuận với các chủ sở hữu khác, được sử dụng bất động sản của chủ thể khác trong phạm vi luật định hoặc trong phạm vi thỏa thuận.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6586

Số điện thoại Luật sư: 058.7999997

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Quyền đối với bất động sản liền kề là gì:

Dưới góc độ luận về pháp luật, kể từ khi hội phân chia thành các giai cấp, tầng lớp, chế độ hữu về đất đai liệu sản xuất đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho các chủ sở hữu khai thác công dụng của đất đai và các bất động sản khác. Do sự hữu về đất đai nên đòi hỏi phải sự xác định về ranh giới giữa các thửa đất. Chính bởi sự hữu đất đai phân chia ranh giới đất đai giữa các chủ thể sở hữu sẽ những quyền năng rộng hoặc hẹp khác nhau nằm những vị trí khác nhau. Do địa thế tự nhiên hoặc theo quy hoạch từng khu đất chủ thể sử dụng đất thun lợi hoặc chủ thể sử dụng đất khó khăn, bị cản trở nhất định. Đối với hoạt động canh tác, sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn thả gia súc, gia cầm của chủ shữu đất đai diễn ra thường xuyên cần thiết nên nhu cầu được sử dụng đất của chủ thể khác diễn ra một cách khách quan, theo nhu cầu cần thiết

sở luận để c định quyền được khai thác công dụng tài sản thuc quyền sở hữu của mình hay của chủ thkhác đó chính nội dung quyền sở hữu nói chung chế định vđịa dịch hay còn gọi là quyền đi với bất động sản liền kề hay nói cách khác thuyết về vật quyền. Trong hệ thống vật quyền, quyền sở hữu vật quyền tuyệt đối, trong đó chủ sở hữu thể thực hiện quyền thông qua nh vi của mình trên chính tài sản của mình. Bên cạnh quyền sở hữu, quyền đối với tài sản của người khác cũng một dng vật quyền. Quyền đối với i sản của người khác quyền của một chủ thể quyền đối với tài sản không thuộc sở hữu của mình. Do đặc trưng vật quyền luôn cấp thiết, quan trng nên để bảo đảm cho việc sử dụng bình thường tính chất bền vững phải scan thiệp của pháp luật quyền địa dịch được pháp luật La xác nhn. Các quyền đối với bất động sản phổ biến thời kỳ này quyền mở lối đi qua đất của người khác; quyền chăn thả hoặc dẫn dắt gia súc đi qua đất của người khác; quyền dẫn nước, tiêu nước trong sản xuất nông nghiệp, trong khu dân ... Các quyền đối với bất động sản liền kphổ biến được đề cập trên được xác lập dựa trên các căn cứ do các bên thỏa thuận hoặc do di chúc hoặc do luật định

Pháp luật dân sự của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều ghi nhận về quyền đối với bất động sản liền kề với tên gọi khác quyền địa dịch hoặc dịch quyền. Điển nh thể kể đến như BLDS Pháp năm 1804 quy định từ Điều 637 đến Điều 710; BLDS Nhật Bản quy định từ Điều 280 đến Điều 294; BLDS Canada ghi nhận từ Điều 1177 đến Điều 1195

Những BLDS đã dẫn trên đều đưa ra khái niệm về quyền địa dịch, thể dẫn chứng như Điều 637 BLDS năm 1804 của Pháp quy định: Dịch quyền một nghĩa vụ đối với một bất động sản tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng một bất động sản thuộc sở hữu của người khác; hay khoản 1 Điều 285 BLDS Campuchia quy định: Quyền địa dịch quyền được đem đất đai của người khác phục vụ cho lợi ích đất đai của bản thân theo những mục đích được ghi trong hợp đồng. Tuy nhiên, không thxác lập quyền địa dịch nội dung trái với lợi ích chung; hay Điều 1177 BLDS Québec Canada quy định như sau: Địa dịch một nghĩa vụ đặt ra cho một bất động sản khác (gọi đất chịu địa dịch) lợi cho một bất động sản khác (gọi là đất địa dịch), thuộc về một chủ sở hữu khác. Tuy mỗi quốc gia trên thế giới cách thức khác nhau trong việc ghi nhận quyền địa dịch, nhưng về bản chất đều điểm chung cốt lõi đó trong quan hệ địa dịch luôn tồn tại hai bất động sản thuộc về hai chủ sở hữu khác nhau, trong đó một bất động sản hưởng quyền một bất động sản chịu quyền. Do được thiết lập dựa trên vị trí của các bất động sản, vậy nên việc thay đổi chủ sở hữu đối với một trong hai bất động sản không làm thay đổi sự phiền lụy đối với một bất động sản phải chịu đa dịch

Pháp luật dân sự Việt Nam cũng giống như pháp luật dân sự của nhiều quốc gia khác trên thế giới đều quy định về quyền địa dịch, nhưng với tên gọi khác nhau: Quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề (BLDS 1995 | BLDS 2005); Quyền sử dụng hạn chế thửa đất liền kề (Luật Đất đai 2013); và Quyền đối với bất động sản liền kề (BLDS 2015). Điều này được giải bởi hoạt động lập pháp của Việt Nam được xây dựng trên sở kế thừa quy định trong các BLDS của các quốc gia trên thế giới, nghiên cứu chọn lọc phù hợp với điều kiện kinh tế, hội của đất nước. Mặt khác việc vận dụng sở luận về vật quyền sẽ góp phần bảo đảm tính logic, cấu trúc chặt chẽ trong hoạt động lập pháp và bảo đảm cho quá trình thực hiện pháp luật được hiệu quả. Đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện đại luôn phát triển, thay đổi không ngừng, các quy định về quyền đối với bất động sản liền kề góp phần bảo đảm quyền của chủ sở hữu cả quyền của chủ thể không phải chsở hữu. Trong quan hệ pháp luật về sở hữu, đặc biệt sở hữu đối với bất động sản được thực hiện trong cộng đồng hội đa dạng về chủ thể tham gia, nên chủ sở hữu không thể thực hiện quyền năng của mình một cách tuyệt đối, tùy tiện xâm hại đến lợi ích công cộng, quyền lợi ích của chủ thể khác. Điều này đồng nghĩa với việc chủ sở hữu bất động sản, trong những trường hợp nhất định thể cho phép chủ thể khác khai thác, sử dụng bất động sản thuộc sở hữu của mình. Dưới góc độ nghiên cứu về luật học, một số nhà nghiên cứu, học giả đã luận giải đề cập đến khái niệm về quyền đối với bất động sản liền kề (địa dịch). Trong cuốn Quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề, tác giả Phạm Công Lạc đưa ra khái niệm về địa dịch như sau: Địa dịch một dịch quyền trên bất động sản (đất đai), vậy một dạng bất động sản và chỉ thể được thiết lập tn bất động sản do bản chất không di dời được. Các dạng bất động sản khác không thể chịu địa dịch ngay cả c bất động sản về bản chất cũng không phải tất cả đều phải chịu địa dịch (cây lâu năm được coi bất động sản nhưng không thể áp dụng chế định địa dịch trên cây cối. Nếu theo quan điểm này thì địa dch được coi một bất động sản, không được coi quyền đối với tài sản. Tuy nhiên không thể phủ nhậntrong quan hệ về địa dịch luôn tồn tại ít nhất một bất động sản chịu quyền và một bất động sản hưởng quyền

Tác giả Trần Thị Huệ, đề cập đến khái niệm này trong cuốn sách Quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kvấn đề tranh chấp ranh giớinhư sau: Quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề (Địa dịch) việc một bất động sản chịu skhai thác của một bất động sản khác thuộc quyền sở hữu của một người khác. Hay như nhóm tác giả Phùng Trung Tập Kiều Thùy Linh, trong cuốn Tài sản vật quyền, đã đề cập đến khái niệm này như sau: Quyền đối với bất động sản liền kề quyền của một chủ sở hữu của một bất động sản địa giới liền kvới một bất động sản thuộc quyền sở hữu của người khác, người có bất đng sản liền kề được thực hiện quyền trên một bất động sản của người khác nhằm phục vụ cho việc khai thác một bất động sản thuộc sở hữu của mình. So với khái niệm được đưa ra bởi tác giả Phạm Công Lạc, thì hai khái niệm này thừa nhận quyền đối với bất động sản liền kề là một quyền tài sn và không phải là bt động sản. Điểm chung của cả ba khái niệm này đều xác định cách thức thực hiện quyền đối với bất động sản liền kề luôn có sự tồn tại của một bất động sản chịu hưởng quyền, tức bất động sản chịu sự sử dụng của chủ thể khác (không phải chủ sở hữu) để phục vụ cho việc khai thác một bất động sản khác được gọi bất động sản hưởng quyền

Trong thực tế cuộc sống, quyền đối với bất động sản liền kề không chỉ được xác lập giữa hai chủ sở hữu bất động sản liền kề, còn được xác lập với những bất động sản xung quanh có thể không chung ranh giới). dụ như thửa đất của một người nằm vị trí cuối đường, bị vây bọc bởi các bất động sản khác người này muốn mở lối đi qua đường công cộng thì phải thông qua mnh đất ca nhiều chủ sở hữu khác; hoặc cũng thửa đất đó, chủ sở hữu muốn tưới tiêu diện tích đất canh tác, hoặc mắc đường dây tải điện... thì phải dẫn hệ thống ống nước, máng nước, trồng cột điện qua nhiều thửa đất của nhiều chủ sở hữu khác. Để mở lối đi qua đường công cộng, dẫn hệ thống ống nước hoặc mắc đường dây tải điện thì chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc phải thực hiện theo quy định của pháp luật hoặc xác lập thỏa thuận với các chủ sở hữu bất động sản liền kề, chủ sở hữu bất động sản xung quanh

Tóm lại, từ việc phân tích, đánh giá sở luận, học thuật thực tiễn như trên, tác giả luận văn đưa ra khái niệm về Quyền đối với bất động sản liền kề như sau: Quyền đối với bất động sản liền kề quyền ca chủ sở hữu bất động sản trong những điều kiện do pháp luật quy định hoặc được xác lập thông qua thỏa thuận với các chsở hữu khác, được sử dụng bất động sản của chủ thể khác trong phạm vi luật định hoặc trong phạm vi thỏa thuận nhằm khai thác, sử dụng một cách hợp , thuận lợi bất động sản thuộc sở hữu của mình

2. Đặc điểm của Quyền đối với bất động sản liền kề:

Quyền đối với bất đng sản liền kề những đặc điểm bản sau

Thứ nhất, ba yếu tố cấu thành nên Quyền bất động sản liền kề gồm: (i) bất động sản hưởng quyền bất động sản do vị trí địa những hạn chế, bất tiện; (i) bất động sản hoặc nhóm bất động sản chịu hưởng quyền bất động sản (nhóm) vị trí địa thuận lợi hơn cho chủ sở hữu trong việc sử dụng, khai thác lợi ích, công dụng; (iii) bất động sản hưởng quyền bất động sản chịu hưởng quyền thuc sở hữu của các chủ sở hữu khác nhau. Xét các yếu tố cấu thành nên Quyền bất động sản liền kề thể thấy trong các trường hợp do pháp luật quy định hoặc do các bên thỏa thuận, chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền thể tạo điều kiện cho chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền được phép khai thác, sử dụng bất động sản của mình. dụ: cho phép mở li đi qua, mắc đường dây tải điện, dẫn ống nước..

Thứ hai, tính chất của Quyền đối với bất động sản liền kề quyền đối với tài sản (quyền đối vật) của người khác. thuyết về vật quyền được hiểu quyền được chủ thể (người quyền) thực hiện một cách trực tiếp tức thì | lên một vật không cần đến vai trò trung gian của người khác. Quan hệ vật quyền được hình thành bởi hai yếu tlà chủ thể của quyền (con người) và đối tượng của quyền (vật). Trong quan hệ về Quyền đối với bất động sản liền kề, chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền (bị vây bọc) khả năng thực hiện quyền đối với bất động sản liền kề trong phạm vi nhất định; ngược lại, chủ sở hữu bt động sản liền kề, chủ sở hữu bất động sản xung quanh buộc phải chịu hưởng quyền phải chịu sự phiền lykhi thực hiện quyền sở hữu đối với bất động sản thuộc quyền sở hữu của mình

Thứ ba, đối tượng sở để xác lập Quyền đối với bất động sản liền kề chủ yếu các bất động sản liền kề hoặc bất động sản xung quanh. Xét về vị trí địa , bất động sản liền kề những bất động sản chung ranh giới stiếp giáp với nhau. Còn bất động sản xung quanh là những bất động sản (trong một số trường hợp) tuy không chung ranh giới, nhưng vị trí địa gần nhau, liên quan đến bất động sản bị vây bọc khi khai thác, sử dụng bất động sản bị vây bọc đó

Thứ , Quyền đối với bất động sản liền kề luôn gắn liền với bất động sản và chỉ được thiết lập trên bất động sản, không gắn với chủ sở hữu bất động sản. đặc tính không thể di dời được, sự gắn kết với tài sản đất đai, nên chỉ một số bất động sản phải chịu hưởng quyền (dụ cây lâu năm gắn liền với đất đai, được coi bất động sản nhưng không phải chịu hưởng quyền). So với các quyền nhân thân trong quan hệ pháp luật dân sự một quyền năng không thể chuyển giao cho chủ thể khác, thì Quyền đối với | bất động sản liền kề không thể tách rời bất động sản thể chuyển giao cho chủ thể khác. Cụ thể: trong trường hợp người nào trực tiếp sử dụng bất động sản liền kề thì cũng trực tiếp chịu hưởng quyền. Khi bất động sản được chuyển giao cho chủ thể khác (thể chủ sở hữu mới hoặc chủ thể thmướn bất động sản theo thỏa thuận), thì chủ thể nhận chuyển giao mặc nhiên thụ hưởng hoặc gánh chịu hưởng quyền

Thứ năm, căn cứ thực hiện Quyền đối với bất động sản liền kề dựa trên quy định của pháp luật hoc do các chủ sở hữu bất động sản thỏa thuận. Xét về bản chất của quan hệ pháp luật dân sự luôn sự bình đẳng về địa vị pháp giữa các chủ thể, vậy nên cách thức các chủ thể thực hiện Quyền đối với bất động sản liền kề cũng xuất phát từ sự thiện chí, tận tâm, bảo đảm không gây thiệt hại về lợi ích đối với chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền. Mặt khác tiêu chí này cũng xuất phát từ việc cân bằng lợi ích cho các bên tham gia quan hệ pháp luật về Quyền đối với bất động sản liền kề, vừa bảo đảm cho chủ sở hữu bất động sản bị vay bọc khai thác được công dụng của tài sản, vừa hạn chế tranh chấp giữa các chủ thể

Thứ sáu, mục đích của chủ thể sử dụng Quyền đối với bất động liền kề không trực tiếp tạo ra giá trị kinh tế, không nhằm mục đích lợi nhuận. Bởi lẽ, khi thực hiện Quyền đối với bất động sản liền kề, chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc mong muốn khai thác công dụng từ bất động sản đó vào việc tạo điều kiện thuận lợi cho sinh hoạt bình thường trên bất động sản đó. Tất nhiên, chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc cũng gián tiếp những lợi ích nhất định. dụ thông qua việc mắc đường dây điện, dẫn ống nước sạch chủ sở hu bất động sản vây bọc thể điện năng, nước sạch để sử dụng cho các hoạt động sinh hoạt hằng ngày

3. Phân loại Quyền đối với bất động sản liền kề: 

Để phân loại về Quyền đối với bất động sản liền kề dựa trên nhiều tiêu chí, căn cứ khác nhau

Thứ nhất, nếu dựa trên tiêu chí căn cứ xác lập Quyền đối với bất động sản liền kề thì quyền này được xác lập dựa trên các căn cứ: Do địa thế tự nhiên; Do pháp luật quy định; Do các chủ sở hữu bất động sản thỏa thuận với nhau, do di chúc. Đối với 3 căn cứ do địa thế tự nhiên, do quy định của luật do thỏa thuận đều được quy định trong Bộ Dân luật Bắc kỳ năm 1931 (Điều 603) BDân luật Trung kỳ năm 1936 cả BLDS hiện hành (Điều 246). Còn căn cứ xác lập quyền đối với bất động sản liền kề do di chúc là một căn cứ mới được quy định tại Điều 246 BLDS 2015. Quy định này hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc chung trong việc thực hiện quyền dân sự của chủ sở hữu tài sản, quyền định đoạt tài sản. Với cách chủ sở hữu của một bất động sản, khi còn sống, nhân quyền lập di chúc chỉ định một nhân hoặc pháp nhân quyền đối với bất động sản liền kề

Thứ hai, dựa trên tiêu chí cách thức, phương pháp thực hiện Quyền đối với bất động sản liền kề thì quyền này được phân loại thành quyền liên tiếp quyền không liên tiếp (Điều 604 Bộ Dân luật Bắc kỳ năm 1931). Quyền đối với bất động sản liên tiếp quyền thể đem ra thực hiện ln không phải sự can thiệp của con người, như quyền về tầm nhìn. Quyền đối với bất động sản không liên tiếp quyền cần phải sự tác động của con người mới thi hành được, như quyền mở lối đi, quyền khai quật vật liệu, quyền dẫn ống nước, quyền mắc đường dây tải điện... Việc phân loại quyền đối với bất động sản liền kề nhằm điều chỉnh những quan hệ của các chủ thể thực hiện quyền căn cứ giải quyết những tranh chấp liên quan thuộc quyền liên tiếp hay quyền không liên tiếp. Các hành vi của một bên chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền mà gây bất lợi cho chủ sở hữu quyền đối với bất động sản liền kề đều phát sinh trách nhiệm pháp tương ứng như buộc phải chấm dứt hành vi cản trở quá trình thực hiện quyền theo quy định của pháp luật

Thứ ba, dựa trên tiêu chí hình thức thể hiện thì Quyền đối với bất động sản liền kề được phân loại thành quyền hiển hiện quyền ẩn khuất (Điều 605 Bộ Dân luật Bc kỳ năm 1931). Quyền đối với bất động sản liền kề hiển hiện là quyền được bộc lộ ràng ra bên ngoài thế giới khách quan dưới dạng vật chất, mà bất kỳ ai cũng dễ dàng nhận biết như cửa chính, cửa sổ của một ngôi nhà hay một cây cầu, một cống thoát nước. Quyền đối với bất động sản liền kề ẩn khuất quyền không được biểu hiện ra bên ngoài, như không được xây dựng một vật kiến trúc nhất định tại một không gian nhất định, hoặc chỉ được xây dựng với chiều dài, độ cao tối đa bao nhiêu mét. Hai loại quyền đối với bất động sản liền kề này phụ thuộc vào nguyên tắc truyền thống, phong tục tập quán địa phương hoặc nguyên tắc pháp luật.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo