Lao động nữ, Quyền của lao động nữ là gì? Có đặc điểm gì?

Quyền của lao động nữ là những điều mà người lao động nữ được làm trong quan hệ lao động, được pháp luật ghi nhận và đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh của quyền lực nhà nước.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6586

Số điện thoại Luật sư: 058.7999997

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Khái niệm lao động nữ, quyền của lao động nữ: 

1.1. Khái niệm Lao động nữ:

Hiện nay pháp luật quc tế cũng như pháp luật Việt Nam mới chỉ đưa ra định nghĩa về người lao độngchưa quy định cụ thể về khái niệm lao động nữ. Tại Công ước 155 về An tn lao động, vệ sinh lao động và môi trường làm việc năm 1981 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), người lao động đưc hiểu bao gồm tất cả những người đang được sử dụng, kể cả công chức. Do vậy, theo nghĩa rộng, người lao động bao gồm tất cả những người thuộc giới lao động trong hội theo nghĩa hẹp người lao động những người làm công cho các doanh nghiệp, quan, tổ chức, nhân, hộ gia đình theo hợp đồng lao động. Trong phạm vi Luật lao động thì người lao động chủ yếu được hiểu theo nghĩa hẹp

Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm lao động nữ, quan điểm cho rằng, lao động nữ người lao động mang giới tính nữ, đủ 15 tuổi, khả năng lao động và giao kết hợp đồng lao động. Trong một số trường hợp thể chưa đủ 15 tuổi, nhưng phải thuộc các trường hợp pháp luật cho phép. Bằng một cách tiếp cận khác, quan điểm cho rằng, người lao đng nữ trước tiên phải người lao động (đáp ứng các điều kiện nữ từ đủ 15 tuổi trở lên, khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương chịu sự quản , điều nh của người sử dụng lao động) người giới tính nữ [4]. 

Nhìn chung, quan điểm về lao động nữtrên mặc đã phản ánh được đặc điểm để nhận biết lao động nữ, tuy nhiên chưa thể hiện sự tổng quan cũng như chưa phản ánh được hết các điểm khác biệt giữa lao động nữ so với lao động nam để một cái nhìn đúng đắn nhất về khái niệm lao động nữ

Dưới góc độ pháp , Từ điển giải thích thuật ngữ luật học đã đưa ra định nghĩa về lao động nữ như sau: Lao động nữ là người lao động thuộc giới tính nữ khi tham gia quan hệ lao động đầy đủ c quyền nghĩa vụ người lao động đồng thời được pháp luật lao động dành cho những quy định áp dụng riêng

Từ những phân tích trên, thể đưa ra khái niệm lao động nữ như sau:

Lao động nữ là người lao động có giới tính là nữ, mang những đặc trưng riêng về giới khi tham gia quan hệ lao động, do vậy ngoài việc có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của người lao động thì trong một số trường hợp được pháp luật lao động dành cho những quy định riêng. 

1.2. Khái niệm “quyền của lao động nữ”:

Tính đến hiện nay, đã nhiều văn kiện cũng như công ước quốc tế ra đời để bảo vệ quyền của lao động nữ. Tuyên ngôn quốc tế về nhân là tuyên ngôn về các quyền bản của con người được Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua năm 1948 đã ghi nhận những quyền bản, tôn trọng quyền tự do cũng như quyền bình đẳng nam nữ. Theo Điều 23, Điều 24 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền thì quyền con người trong lĩnh vực lao động gồm: quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn việc làm phù hợp, quyền được bảo vệ chống thất nghiệp, quyền được hưởng lương bằng nhau, quyền được nghỉ ngơi ..

Việt Nam trở thành tnh viên của ILO từ năm 1992 đã phê chuẩn nhiều công ước của tổ chức này. Năm 1998, ILO thông qua Tuyên bố về những nguyên tắc Quyền bản trong Lao động. Theo đó, người lao động các quyền bản sau: Quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể của người lao động người sử dụng lao động (Công ước số 87 năm 1948 Công ước số 98 năm 1949); Xóa bỏ lao động cưỡng bức lao động bắt buộ(Công ước số 29 năm 1939 Công ước số 105 năm 1957); Cấm sdụng lao động trẻ em, xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (Công ước số 138 năm 1973 Công ước số 182 năm 1999); Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử xử về việc làm nghề nghiệp (Công ước số 100 năm 1951 Công ước số 111 năm 1958) [30]. Theo Tuyên bố năm 1998 của ILO thì các nước thành viên ILO đã phê chuẩn hay chưa phê chuẩn các công ước bản nêu trên đều nghĩa vtôn trọng, thúc đẩy thực hiện bốn tiêu chuẩn lao động được đề cập trong các công ước đó

Công ước quốc tế về các quyền chính trị, hội, văn hóa m 1966 của Liên Hiệp Quốc quy định việc nam nữ quyn bình đẳng trong mọi hoạt động kinh tế, văn hóa, chính trị, hội; Công ước này sự ưu tiên đối với các mẹ trong thời gian sinh con bởi đây thời gian các mẹ cần phải được nghỉ ngơi hưởng lương các chế độ phúc lợi khác

Đặc biệt, lần đầu tiên quyền của lao động nữ được ghi nhận trong một văn kiện quốc tế đó Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW) được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua năm 1979. Công ước chỉ ra những ảnh hưởng của văn hóa truyền thống làm giới hạn quyền của người phụ nữ gây khó khăn cho các nhà chức trách trong việc thay đổi các thành kiến, khuôn phép, phong tục, tập quán phân biệt đối xử chống lại phụ nữ. Mục đích của CEDAW trao cho phụ nữ những quyền con người đã được lut pháp thừa nhn nhưng họ không được hưởng trên thực tế bởi sự phân biệt đối xử với phụ nữ. Nếu như các văn kiện trước đó chỉ mới đề cập đến sự bất bình đẳng nam nữ một cách chung chung thì CEDAW đã chỉ ra những lĩnh vực bị phân biệt, đối xử nặng nề như hôn nhân gia đình, lao động việc làm, đời sống chính trị... Những vấn đề tính chất toàn cầu như phụ nữ cần thực sự bình đẳng với nam giới để họ thực hiện quyền con người, cần mục tiêu, cách thức, biện pháp đặc thù để áp dụng những nguyên tắc của nhân quyền trong việc bảo đảm bình đẳng giới [6]

Hiểu theo các quy định trong các công ước thì quyền của lao động nữ được thể hiện trên nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng trong pháp luật lao động thì quyền của lao động nữ quyền được pháp luật ghi nhận trong mối quan hệ vi người sử dụng lao động. Quyền của lao động nữ trong pháp luật lao động thường tập trung vào: Quyền bình đẳng, không bị phân biệt đối xử; Quyền đảm bảo lợi ích trong thời gian lao động nữ mang thai, sinh con nuôi con nhỏ; Quyền đảm bảo điều kiện làm việc; Quyền đảm bảo trong lĩnh vực tiền lương; Quyền đảm bảo về tuổi nghỉ u

Như vậy, có thể hiểu quyền của lao động nữ những điều lao động nữ được m trong quan hệ lao động, được pháp luật ghi nhận đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh của quyền lực nhà ớc

2. Đặc điểm quyền của lao động nữ:

Quyền của lao động nữ những đặc điểm bản sau đây:

2.1. Quyền của lao động nữ phát sinh trên điều kiện giới tính: 

Để một người xác định lao động nữ đó phải mang giới tính nữ. Theo quy định tại khoản 2, Điều 5, Luật bình đẳng giới thì giới tính khái niệm chỉ đặc điểm sinh học của cả nam nữ. Căn cứ vào định nghĩa này thể hiểu giới tính nữ đây được nhìn nhận dưới góc độ đặc điểm sinh học của nữ. Trên thực tế việc xác định khái niệm giới tính hiện nay còn khá nhạy cảm trong một số vấn đề. Với sự phát triển ngày càng hiện đại của khoa học kỹ thuật, thực tế những năm vừa qua đã xuất hiện khá nhiều trường hợp một người mang vẻ bề ngoài của nữ giới một phần hoặc hoàn toàn nhưng không phải hình hài thực sự khi họ sinh ra. Hay nói cách khác, giữa giới tính họ đang thể hiện ra ngoài với giới tính thực sự được công nhận trong giấy tờ tùy thân không sự đồng nhất. Vn đđặt ra là luật lao động xác định một Nđược coi lao động nữ theo giới tính thực sự khi người đó sinh ra hay giới tính hbiểu đạt ra bên ngoài ti nơi làm việc

Trả lời cho vấn đề này, Bộ luật Dân sự đã quy định: Quyền xác định lại giới tính, nhằm giải đáp một phần trăn trở cho những người không may mang giới tính khác so với hình dáng bên ngoài ngay từ khi sinh ra. Ngoài ra, trong hội ngày nay, việc chuyển đổi giới tính xảy ra trong quá trình sinh hoạt, tiếp xúc làm cho họ biến đổithành giới tính khác họ quyết định thay đổi giới tính của mình. Do đó, Bộ luật dân sự 2015 đã quy định về quyền được chuyển đổi giới tính tại Điều 37. Thế nhưng từ công nhận mang tính nguyên tắc cho đến thực thi trên thực tế một quá trình rất dài, trải qua nhiều thtục phức tạp. Để thực hiện được nội dung này, cần phải chờ các Nghị định Thông hướng dẫn về trình tự, thủ tục, điều kiện chuyển đổi giới tính… 

Do vậy, hiện nay thực trạng này vẫn chưa được giải quyết dứt điểm chính thực tế của tình trạng này đã đặt ra một số vấn đề khá khó xử. Do đó, để đảm bảo tốt hơn quyền lợi của lao động nữ trong đó cả quyền lợi của những NLĐ chuyển giới sang giới nữ pháp lut lao động cần làm về khái niệm lao động nữ để cách hiểu thực sự ràng về mặt pháp của vấn đề này

2.2. Quyền của lao động nữ được bảo vệ có vai trò quan trọng trong đời sống sản xuất, xã hội: 

Trong hội phong kiến, xuất phát từ đặc điểm tâm sinh nên người phụ nữ không được xem trọng giá trị bản thân, luôn bị cho thấp kém hơn nam giới phải lệ thuộc vào nam giới, họ chỉ thể giữ vai trò nội trợ trong gia đình, tưởng trọng nam khinh nđã tước mất hội tham gia vào các công việc hội của họ. Trong thời kỳ này không hề xuất hiện lao động nữ, tất yếu không đặt ra vấn đề bảo đảm quyền làm mẹ của lao động nữ. Cùng với thời gian, hội ngày càng phát triển cũng đã tạo hội cho phụ nữ chứng minh vai trò của mình, phụ nữ đã khẳng đnh vai trò trụ cộtthứ hai trong gia đình, cùng với nam giới chia sẻ trách nhiệm kinh tế, chăm lo cuộc sống vật chất cho gia đình. Ngày nay, nam giới đã gạt bỏ dần tưởng Nội trợ là việc của đàn để cùng chung tay trong công việc gia đình nhưng để tổ ấm bền vững thì vai trò chủ yếu vẫn của người phụ nữ bởi thời đại nào đi nữ thì người phụ nữ cũng người sắp xếp, tổ chức cuộc sống cho gia đình. Hơn nữa, xét về mặt thiên chức những việc người đàn ông sẵn sàng cũng không thể san sẻ được cho người phụ nữ như là vai trò làm mẹ trong việc sinh con,… Do đó, để đảm bảo chức năng làm mẹ của lao động nữ, để họ thể hoàn thành tốt mọi việc, đòi hỏi lao động nữ phải được hưởng nhiều đặc quyền hơn lao động nam để đắp lại những gánh nặng mang trên người

Tuy vậy, để cân bằng lợi ích giữa các bên, đảm bảo sự phát triển bền vững của đất nước, đòi hỏi pháp luật phải những quy định về bảo đảm quyền làm mẹ của lao động nữ. Tuy nhiên, việc ghi nhận các quyền lợi cho lao động nữ cũng cần đặt trong mối tương quan với lợi ích của NSD. Nếu quá chú trọng đến quyền làm mẹ mà gạt bỏ lợi ích chính đáng của NSDLĐ sẽ tình tạo ra rào cản ảnh ởng đến hội tiếp cn việc làm của lao động nữ. Điều này dẫn đến hệ quả việc bảo đảm quyền làm mẹ của lao động nữ chỉ mang tính chính sách, thiếu thực tế. Ngược lại, nếu quá đề cao lợi ích của NSDLĐ sẽ gây bất lợi cho lao động n. Do đó, quy định của pháp luật cần tính toán cần cân bằng lợi ích của cả hai bên

2.3. Quyền của lao động nữ có những khác biệt nhất định so với lao động nam khi tham gia quan hệ lao động: 

Môi trường lao động luôn chứa đựng các yếu tố độc hại, nguy hiểm về nhiều mặt. Trong khi đó, lao động nữ lại những lao động rất nhạy cảm với các yếu tố độc hại, nguy hiểm đó. Mặt khác, lao động nữ còn phải gánh vác những trách nhiệm rất nặng nề cao cả là mang thai, sinh đẻ, nuôi con để duy trì nòi giống. thế chính sách, pháp luật lao động cần những quy định riêng về quyền của lao động nữ nhằm bảo vệ lao động nữ thông qua chế phân công công việc, đảm bảo những điều kiện lao động cũng như thực hiện các chính sách ưu tiên, nghiêm cấm người sử dụng lao động lạm dụng, xâm hại quyền lợi trong quá trình sử dụng lao động nữ.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo