Quy trình kiểm soát hợp đồng M&A theo pháp luật cạnh tranh 

Luật Cạnh tranh 2018 sử dụng các tiêu chí doanh thu, tổng tài sản để đánh giá ngưỡng thông báo tập trung kinh tế. Các tiêu chí này dễ được các chủ thể có liên quan và cơ quan quản lý cạnh tranh xem xét đánh giá vì được sử dụng từ hệ thống kế toán và báo cáo tài chính của doanh nghiệp.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6586

Số điện thoại Luật sư: 058.7999997

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Quy định về nỡng thông báo tập trung kinh tế: 

Theo quy đnh tại Khoản 2, Điều 33 Luật Cạnh tranh 2018 thì pháp luật Việt Nam sử dụng các ngưỡng thông báo : (1) Tổng tài sản trên thị trường Việt Nam của doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế; (2) Tổng doanh thu trên thị trường Việt Nam của doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế; (3) Gtrị giao dịch của tập trung kinh tế; (4) Thị phần kết hợp trên thị trường liên quan của doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế. Các điều kiện này được đánh giá độc lập nhau được quy định cụ thể về mức giá trị tại Điều 13, Nghị định 35/2010/NĐCP quy định chi tiết một số điều của Luật Cạnh tranh 2018

Khắc phục nhược điểm của Luật Cạnh tranh 2004, Luật Cạnh tranh 2018 đã sử dụng nhiều tiêu chí để đánh giá ngưỡng thông báo tập trung kinh tế hơn. Việc chỉ sử dụng duy nhất một tiêu chí thị phần kết hợp của Luật Cạnh tranh 2004 bộc lnhiều khó khăn trong thực tế áp dụng do các doanh nghiệp khi tham gia tập trung kinh tế không thể xác định được giá trị của thị trường hoạt động của mình. Ngay cả các quan quản nhà nước của ngành hay lĩnh vực đó cũng khó thể có sliệu đủ tin cậy để đánh giá quy thịnh trường. Số liệu này nếu cũng độ trễ do cần thời gian để tổng hợp như vậy không đáp ứng được yêu cầu cần đánh giá thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế. thể thấy pháp luật Hoa Kpháp luật Pp đều không sử dụng tiêu chí này để đánh giá ngưỡng thông o tập trung kinh tế

Giống với pháp luật Hoa Kpháp luật Pháp, Luật Cạnh tranh 2018 sử dụng các tiêu chí doanh thu, tổng tài sn để đánh giá ngưỡng thông báo tập trung kinh tế. Đây các tiêu chí dễ được các chủ thể liên quan quan quản cạnh tranh xem xét đánh giá do được sử dụng từ hệ thống kế toán báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Theo quy định của pháp luật về thuế, hàng tháng, hàng quý c doanh nghiệp đều phải có báo cáo nộp định kỳ cho quan thuế; đối với các doanh nghiệp niêm yết trên sàng chứng khoán thì báo cáo bán niên phải có sự soát xét và báo cáo thường niên phải được kim toán của đơn vkiểm toán độc lập. Do đó, việc sử dụng c loại số liệu này để xác định ngưỡng thông báo tập trung kinh tế hết sức thuận tiện

Ging với pháp luật Hoa Kỳ, Luật Cạnh tranh 2018 sử dụng tiêu chí giá trị giao dịch để xem xét ngưỡng thông báo tập trung kinh tế. Tuy nhiên, pháp luật Hoa Ksử dụng tiêu chí này tiêu chí chính để đánh giá trong khi Luật Cạnh tranh 2018 lại sử dụng với giá trị tương đương với các tiêu chí khác. Nếu như các tiêu cvề doanh thu tổng tài sản các số liệu bản đã có một cách chắc chắn tại thời điểm tiến hành hoạt động tập trung kinh tế, thì giá trị giao dịch tại thời điểm diễn ra hoạt động tập trung kinh tế kết quả của sự thương lượng, đàm phán giữa các bên. Do đó, trong trường hợp các bên chủ ý để giá trị giao dịch danh nghĩa thấp hơn giá trị giao dịch thực tế thực hiện thanh toán cho nhau bằng các phương thức khác thì quy định về giá trị giao dịch sbị hiệu. Để khắc phục nhược điểm này, chúng ta thấy rằng việc thông báo tập trung kinh tế chỉ một phần trong các chế kiểm soát tập trung kinh tế. Nếu như vụ việc tập trung kinh tế không thuộc đối tượng phải thực hiện thủ tục thông báo tập trung kinh tế nhưng hậu quả làm giảm môi trường cạnh tranh thì quan nhà nước thẩm quyền hoặc chủ thể quyền lợi nghĩa vụ bị ảnh hưởng hoàn toàn thể thực hiện biện pháp tố tụng cạnh tranh để bảo vệ quyền lợi bị xâm hại

Ngoài ra, cần lưu ý rằng Khoản 2 Điều 33 Luật Cạnh tranh 2018 ngoài việc quy định các tiêu chí được sử dụng để đánh giá ngưỡng thông báo tập trung kinh tế, nội dùng chế định y đồng thời cũng quy định về giá trị sử dụng tính tương đương độc lập của các tiêu chí này. Nvậy pháp luật Việt Nam quy định sự khác biệt rệt so với pháp luật Pháp, chỉ sử dụng duy nhất tiêu chí đánh giá bằng doanh thu so với pháp luật Hoa K, sử dụng nhiều tiêu chí đánh giá khác nhau, nhưng tiêu chí đánh giá về quy giao dịch được sử dụng m tiêu cđánh giá chính, tiêu chí đánh giá phụ tiếp theo để phân loại tổng tài sản hoặc doanh thu của các chủ thể tham gia tập trung kinh tế. Một điểm chung nữa giữa pháp luật Hoa Kpháp luật Pháp khác biệt với Luật Cạnh tranh 2018 đó là các tiêu cđánh giá được thể hóa ràng đối với từng chủ thể, mức giá trị của từng tiêu chí được xác định cụ thể khi áp dụng đối với chủ thể bên mua và bên bán.

Nội dung quy định mức giá trị cụ thể của các ngưỡng thông báo tập trung kinh tế không được quy định cụ thể trong Luật Cạnh tranh 2018 được trao quyền cho Chính phủ quy định tại Nghị định số 35/2020/NĐCP. Theo nội dung quy định tại Điều 13 Nghị định này về Ngưỡng thông báo tập trung kinh tế thì việc áp dụng ngưỡng thông báo tập trung kinh tế theo Luật Cnh tranh 2018 một sđặc điểm như sau

Các mức giá trị sử dụng làm ngưỡng thông báo tập trung kinh tế được áp dụng chung cho cả chủ thể bên mua và bên bán. Việc xác định mức doanh thu y kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế hay áp dụng cho từng doanh nghiệp tham gia hoạt động tập trung kinh tế với cách bên mua hoặc bên bán chưa được quy định ràng, thể dẫn tới cách hiểu không thống nhất khi áp dụng để tính tn các giá trị này

Một điểm đáng lưu ý Điểm b, Khoản 2 Điều 33 Luật Cạnh tranh 2018 quy định sử dụng tiêu chí tổng doanh thu, tuy nhiên khi được hướng dẫn cụ thể tại Điểm b, Khoản 1 Điều 12 Nghị định số 35/2000/NĐCP thì Chính phủ lại hướng dẫn là áp dụng đối với doanh thu bán rahoặc doanh số mua vào. Theo quy định tại Mục 03, Chuẩn mực kế toán số 14 ban hành theo Quyết định số 149/2001/BTC của Bộ Tài chính thì doanh thu tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kkế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu”. Như vậy không thể đáng đồng khái niệm tổng doanh thuvới khái niệm doanh số mua vàonhư nội dung quy định tại Nghđịnh số 35/2020/NĐCP được

Ngoài ra, Luật Cạnh tranh 2018 không đề cập đến phương thức sử dụng các tiêu chí đánh giá ngưỡng thông báo tập trung kinh tế chỉ quy định các tiêu chí nào được sử dụng đđánh giá ngưỡng thông báo tập trung kinh tế. Do đó trong thực tế triển khai thể phát sinh trường hợp hai doanh nghiệp có tổng giá trị tài sản thuc ngưỡng phải thông báo tập trung kinh tế, thực hiện giao dịch chuyển nhượng tài sản cho nhau (có thể tài sản trực tiếp phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc cổ phần, phần vốn góp ti công ty con), tuy nhiên, trong trường hợp giá trị tài sản chuyển nhượng giá trị nhỏ hoặc doanh thu của công ty cổ phần, phần vốn góp được chuyển nhượng so với thị trường liên quan của công ty này giá trị nhỏ, thì việc phải thực hiện thủ tục thông báo tập trung kinh tế không cần thiết. Đây có lẽ nhượng điểm của việc sử dụng nhiều tiêu chí đánh giá tập trung kinh tế tuy nhiên không phân định thứ tự ưu tiên áp dụng giữa các tiêu chí này

2. Quy định về nghĩa vụ thông báo tập trung kinh tế: 

Thông báo TTKT trình tự bắt buc đối với c doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế đạt đến ngưỡng thông báo TTKT theo quy định tại Điều 33 Luật Cạnh tranh 2018. Theo đó, khi đạt đến ngưỡng thông o TTKT, các doanh nghiệp nghĩa vụ phải nộp hồ thông báo đến Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia. Ngưỡng thông báo phụ thuộc vào một trong các trường hợp: (a) Giá trị giao dịch từ 1.000 tỉ đồng trở lên, (b) Tổng tài sản trên thị trường của doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp liên kết doanh nghiệp đó thành viên tham gia tập trung kinh tế từ 3.000 tỉ đồng trở lên, (c) Tổng doanh thu bán ra hoặc doanh số mua vào trên thị trường Việt Nam của doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp liên kết doanh nghiệp đó là thành viên tham gia tập trung kinh tế từ 3.000 tỉ đồng trở lên (d) Thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế từ 20% thị phần thị trường

Trên thực tế, do hiện nay Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia vẫn chưa được thành lập nên các doanh nghiệp gặp nhiều kkhăn trong việc gửi nộp hồ , không biết gửi nộp hồ sơ cho ai, gửi nộp hồ đi đâu? Các quan khác chịu trách nhiệm thẩm định hồ theo Luật Cạnh tranh 2004 (Cục Cạnh tranh & Bảo vệ người tiêu dùng) thì nay theo luật mới đã không còn thẩm quyền

Bên cạnh đó, một khía cạnh về nghĩa vthông báo tập trung kinh tế đang gặp nhiều quan điểm trái chiều đó là đối với hoạt động mua bán doanh nghiệp. Pháp luật Việt Nam hiện nay đang không bất kỳ một quy định cụ thể như thế nào mua bán doanh nghiệp? Thông thường, hoạt động mua bán doanh nghiệp được hiểu việc một doanh nghiệp trực tiếp hoặc gián tiếp mua toàn bộ hoặc một phần vốn góp, tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối doanh nghiệp hoặc một ngành, nghề của doanh nghiệp bị mua lại. Theo quy định tại khoản 1, Điều 2 Nghị định 35/2020/CP thì kiểm soát, chi phối doanh nghiệp hoặc một ngành, nghề của doanh nghiệp khác khi thuộc một trong các trường hợp sau: (1) Doanh nghiệp mua lại giành được quyền sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc trên 50% cổ phần quyền biểu quyết của doanh nghiệp bị mua lại; (2) Doanh nghiệp mua lại giành được quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng trên 50% tài sản của doanh nghiệp bị mua lại trong toàn bộ hoặc một ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp bị mua lại đó; (3) Doanh nghiệp mua lại mt trong các quyền sau: (i) Trực tiếp hoặc gián tiếp quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc bãi nhiệm đa số hoặc tất cthành viên hội đồng quản trị, chủ tịch hội đồng thành viên, giám đốc hoặc tổng giám đốc của doanh nghiệp bị mua lại; (ii) Quyết định sửa đổi, bổ sung điều lệ của doanh nghiệp bị mua lại; (iii) Quyết định các vấn đề quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị mua li bao gồm việc lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh; lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh; lựa chọn điều chỉnh quy ngành, nghề kinh doanh; lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân bổ sử dụng vn kinh doanh của doanh nghiệp đó

Tuy nhiên, hiện nay, Luật Cạnh tranh và Nghị định 35/2020/NĐCP chưa hướng dẫn cụ thể quyền phủ quyết phải là quyền kiểm soát, chi phối hay không. Do đó, chưa câu trả lời chính xác liệu các quyền phủ quyết Nđầu được từ thỏa thuận cổ đông được coi là Nhà đầu kiểm soát, chi phối công ty mục tiêu

Trường hợp quan điểm của quan quản cạnh tranh cho rằng quyn phủ quyết được coi là quyền quyết định thì các giao dịch M&A điều khoản phủ quyết thuộc ngưỡng thông báo tại khoản 1, Điều 13 Nghị định 35/2020/CP sẽ phải tiến hành thông o tập trung kinh tế. Do đó, các giao dịch M&A điều khoản phủ quyết thuộc ngưỡng thông báo tại khoản 1, Điều 13 Nghị định 35/2020/NĐCP muốn an toàn phải tiến hành c thủ tục nộp hồ thông báo tập trung kinh tế để được xem xét giải quyết theo trình tự thẩm định tập trung kinh tế của pháp luật. Dẫn tới thể kéo dài thời hạn hoàn thành giao dịch, gây thiệt hại cho các bên liên quan

Nghị đnh 75/2009/CP về xphạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh quy định quy định: trong trường hợp các doanh nghiệp vi phạm nghĩa vụ thông báo khi tiến hành TTKT thì sẽ bị phạt tiền từ 1% đến 3% tổng doanh thu trong năm tài chính trước năm thực hiện hành vi vi phạm của các doanh nghiệp tham gia TTKT

3. Quy định về việc thẩm định hồ sơ tập trung kinh tế: 

Việc đánh giá tác động về kinh tế của vụ việc tập trung kinh tế được Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia tiến hành trên sở các phân tích về kinh tế của từng vụ việc tập trung kinh tế. Mục đích của việc đánh giá nhằm xác định tác động hạn chế cạnh tranh của hoạt động tập trung kinh tế. Việc đánh giá này bao gồm cả đánh giá các tác động tích cực tiêu cực kết luận về tổng hợp các tác động

Khoản 1 Điều 9 Luật Cạnh tranh năm 2018 ghi nhận thị trường bao gồm thị trường sản phẩm liên quan thị trường địa liên quan. Trong đó, thị trường sản phẩm liên quan thị trường của những hàng hóa, dịch vụ thể thay thế cho nhau về đặc tính, mục đích sử dụng giá cả. Thị trường địa liên quan là một khu vực địa cụ thể trong đó những hàng hoá, dịch vụ thể thay thế cho nhau với các điều kiện cạnh tranh tường tự có sự khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận. Hai phân loại thtrường này là dựa vào đặc tính của sản phẩm ng a đặc điểm về không gian tiêu thsản phẩm hàng hóa đó. Nghị định số 35/2020/CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh dành các điều từ Điều 3 đến Điều 8 quy định hướng dẫn xác định các loại thị trường này

Theo nội dung quy định tại Điều 4 Nghị định s35/2000/CP thì thị trường sản phẩm liên quan được ghi nhận dựa vào đc tính có thể thay thế cho nhau về đặc tính hànhóa (tính chất vật , hóa học, tính ng kthuật...), mục đích sử dụng giá cả của hàng | hóa, dịch vụ. Việc xác định khả năng thay thế cho nhau của hàng hóa được hướng dẫn xác định tại Điều 5, theo đó, việc đánh giá chủ yếu dựa trên sự biến động về giá cả các các loại hàng a khi sự thiếu hụt của một mt hàng gây ra

Việc xác định thị trường sản phẩm liên quan trong trường hợp đặc biệt được quy đnh tại Điều 6 của Nghị định s35/2000/NĐCP. Chúng ta thấy rằng các nội dung quy định tại Điều 4 của Nghđịnh số 35/2020/CP rất thuận tiện phù hợp cho việc đánh giá các hoạt động tập trung theo chiều ngang do việc so sáng đánh giá tập trung vào đặc tính của hàng hóa trên cùng thị trường liên quan. Tuy nhiên, khi áp dụng các quy định này o đánh giá tập trung kinh tế theo chiều dọc thì sẽ không phù hợp do trong trường hợp này, hàng hóa dịch vụ của các chủ thể tham gia tập trung kinh tế không còn trên cùng thị trường liên quan. thể ly dụ trong trường hợp một sàn thương mại điện tử tiến hành tập trung kinh tế với một đơn vị vận chuyển, trong trường hợp này, nếu áp dụng các quy định của Điều 4 thì vụ việc tập trung kinh tế nhiều khả năng được xem xét thông qua do chủ thể hình thành sau tập trung kinh tế có sự tăng trưởng về quy nhưng hot động trên hai thị trường liên quan khác nhau. Tuy nhiên nếu đánh giá theo Khoản 2 và Khoản 3 Điều 6 thì ràng thị trường vận chuyển hỗ trợ quan trọng cho hoạt động thương mại điện từ và do đó sàn thương mại điện tử sẽ thể lợi thế về chi phí hơn các đối thcạnh tranh khác cần được xem xét. Như vậy, chúng ta thấy rằng nội dung quy định tại Điều 6 Nghị định 35/2020/CP để hướng tới điều chỉnh các hoạt động tập trung kinh tế theo chiều dọc của các chủ thể trong cùng một chuỗi gtrị thương mại

Việc xác định thị trường địa liên quan được quy định tại Điều 7 Nghị định s35/2020/NĐCP. Theo đó thì thị trường địa liên quan được đánh giá dựa trên khả năng thay thế được cho nhau của các sản phẩm có điều kiện cạnh tranh tương tự và khác biệt đáng kể với các khu vực lân cận (tiêu chí chi phí vận chuyển; rào cản thị trường)

Bên cạnh việc xác định thị trường liên quan, việc xác định c rào cản ra nhập mở rộng thị trường cũng yếu quan trọng trong việc xác định mức độ cạnh tranh của một thị trường. Nội dung hướng dẫn này được quy định tại Điều 8 Nghị định số 35/2020/CP. Các nội dung quy phạm này hướng tới đánh giá sự khó khăn của một đối thcạnh tranh mới khi tham gia thị trường liên quan vụ việc tập trung kinh tế tác động tới

Như vậy, các quy phạm này của Nghị định số 35/2020/CP sự chi tiết hơn so với nội dung các quy phạm tương đương tại Nghị định số 116/2005/NĐCP, tuy nhiên | bản không nhiều thay đổi. Để thể đánh giá các nội dung này kịp thời chất lượng thì Ủy ban Cạnh tranh cần có nhiều thông tin về thị trường hot động của doanh nhiệp. Luật Cạnh tranh 2018 không có nhiều khác biệt so với Luật Cạnh tranh 2004 trong việc gia tăng quyền hạn này, Ủy ban Quản cạnh tranh còn thiếu công cụ thông tin để sở đánh giá. Mặc dù theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 35/2020/CP, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia quyền tham vấn các quan quản chuyên ngành các chuyên gia, tuy nhiên không quy định cụ thể về nghĩa vụ phối hợp hoặc các yếu cầu phải phối hợp trong việc cung cấp thông tin cho Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia

Bên cạnh đó, các quy phạm tại Luật Cạnh tranh 2018 Nghị định 35/2020/CP mới quy định các nội dung yêu cầu đánh giá mang tính định hướng chứ chưa hướng dẫn mang tính đnh lượng việc áp dụng các quy phạm này trong một nnh, nh vực hoặc hoàn cảnh cthể. Việc áp dụng mang tính định lượng các quy phạm này phụ thuộc vào chính sách của Chính phủ từng thời kỳ. Do đó, để thuận tiện tạo tính ổn định trong việc áp dụng pháp luật cạnh tranh, tùy o chính sách đối với hoạt động tập trung kinh tế, Chính phủ cần ban hành hướng dẫn cụ thể việc áp dụng mức đánh giá các tiêu trí tập trung kinh tế của từng thời kỳ

Việc xác định tác động đối với cạnh tranh được pháp luật Vit Nam sử dụng thống nhất trong Luật Cạnh tranh 2004 và tại Luật Cạnh tranh 2018 thị phần kết hợp. Đặc | biệt, Luật Cạnh tranh 2018 đã quy định cụ thể về cách c định thị phần thị phần kết hợp tại Điều 10 chi tiết tại Điều 9 Điều 10 Nghị định 35/2020/NĐCP đối với việc xác định thị phần của nhóm doanh nghiệp liên kết

Tuy nhiên, theo quan điểm của TS. Nguyễn Trọng Điệp trong bài Thị phần trong | thị trường liên quan theo pháp luật Luật Cạnh tranh Việt Namtrên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật năm 2017 thì các đánh giá, xác định của pháp luật cạnh tranh Việt Nam chỉ mang tính chủ quan của quan quản nhà nước chưa nh đến sự đánh giá của người tiêu dùng. Tham khảo kinh nghiệm Hoa Kỳ Pháp, TS. Nguyễn Trọng Điệp đã đề xuất việc áp dụng bổ sung cách đánh gvụ việc tập trung kinh tế từ phía người tiêu dùng bằng phương pháp thử SSNIP (Small but Significant Nontransitory Increase in Price). Đây phương pháp đã được Liên minh Châu Âu sử dụng quy định tại Điều 81 82 Hiệp định thành lập Cộng đồng chung Châu Âu về nguyên tắc cạnh tranh. Theo đó, quan điểm của người thụ hưởng sản phẩm về khả năng thay thế của sản phẩm này bằng một sản phẩm khác sẽ căn cứ quyết định về phạm vi của thị trường liên quan của sản phẩm, thay các tiêu chí định tính, định lượng được cung cấp bởi nhà sản xuất hoặc được quyết định bởi nhà nước. Mặc nhận được nhiều ý kiến đóng góp trong quá trình soạn thảo, Luật cạnh tranh 2018 đã không bsung hay hoàn thiệm thêm về cách đánh giá vụ việc tập trung kinh tế so với Luật Cạnh tranh 2004

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 35 Luật Cạnh tranh 2018 thì Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia trách nhiệm tiếp nhận hồ thông báo tập trung kinh tế. Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ thông báo, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia trách nhim thông báo bằng văn bản cho bên nộp hồ về tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ. Trong trường hợp hồ chưa đầy đủ, hợp lệ, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia trách nhiệm thông báo bằng văn bản các nội dung cụ thể cần sửa đổi, bổ sung để các bên sửa đổi, bổ sung hồ trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ra thông báo. Khi kết thúc thời hạn bên được yêu cầu không sửa đổi, bổ sung hồ hoặc sửa đổi, bổ sung không đầy đủ theo yêu cầu thì Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia trả lại hồ thông báo tập trung kinh tế

Sau khi nhận đủ hồ thông báo tập trung kinh tế hợp lệ, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia thời hạn 30 ngày để xem xét ra thông báo kết quthẩm định bộ việc tập trung kinh tế theo quy định tại Điều 36 Luật Cạnh tranh 2018. Theo đó, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia được phép quyết định theo một trong hai trường hợp sau: (1) hoạt động tập trung kinh tế được phép thực hiện hoặc (2) hoạt động tập trung kinh tế phải thẩm định chính thức. Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia chỉ được phép ra quyết định thẩm định chính thức hoạt động tập trung kinh tế trong thời hạn 30 ngày. Như vậy, nếu hết thời hạn 30 ngày theo quy định tại Khoản 2 Điều 36 Luật Cạnh tranh 2018 thì vụ việc tập trung kinh tế phải thực hiện thủ tục thông báo được phép thực hiện

Việc thẩm định bộ theo quy định tại Điều 36 Luật Cạnh tranh 2018 được quy định cụ thể tại Điều 14 Nghị định số 35/2013/CP, theo đó, căn cứ bản để xem xét một vụ việc tập trung kinh tế phải thực hiện thẩm định chính thức hay được phép thực | hiện trên sở đánh giá thị phần kết hợp của c doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế trên thị trường liên quan

Việc thẩm định chính thức được quy định tại Điều 37 Luật Cạnh tranh 2018, Ủy | ban Cạnh tranh Quốc gia thời hạn 90 ngày kể từ ngày ra quyết định thẩm định chính thức trong quá trình thẩm định bộ. Thời gian thẩm định chính thức thể gia hạn tối đa không quá 60 ngày đối với các vụ việc phức tạp. Trong quá trình thẩm đnh chính thức, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia thực hiện đánh giá riêng lẻ tác động tích cực, tác động tiêu cực tác động tổng hợp của vụ việc tập trung kinh tế. Các nội dung yêu cầu đánh giá tác động tiêu cực được quy định ti Điều 31 Luật cạnh tranh 2018 quy định cụ thể tại Điều 15 Nghị định 35/2013/CP. Các nội dung yêu cầu đánh giá tác động tích cực được quy định tại Điều 32 Luật Cạnh tranh 2018 quy định cụ thể tại Điều 16 Nghị định 35/2014/NĐCP. 

Trong quá trình thẩm định vụ việc tập trung kinh tế, trong giai đoạn bộ cũng như trong giai đoạn chính thức, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia có quyền tham vấn các quan quản ngành, lĩnh vực các doanh nghiệp tham gia vụ việc tập trung kinh tế hoạt động

Nvậy, chúng ta thấy rằng việc đánh giá tác động kinh tế của vụ việc tập trung kinh tế hot động được tiến hành bởi Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia dựa trên sở của nhiều đánh giá, phân tích của lĩnh vực kinh tế. Mục đích của hoạt động này nhằm đánh giá khả năng gây hạn chế cạnh tranh cũng như những tác động tích cực thể từ vụ việc. Về bản chất, đây là quá trình vận dụng c kiến thức công cụ kinh tế, tài chính, thương mại để đưa ra nhận định, pháp luật cạnh tranh không đưa ra yêu cầu về nội dung của các đánh gnày do đây lĩnh vực chuyên môn khác biệt nhưng pháp luật cạnh tranh đưa ra yêu cầu về các đánh giá cần được thực hiện để Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia căn cứ đưa ra quyết định

Kết thúc quá trình thẩm định chính thức, theo quy định tại Khoản 1 Điều 41 Luật Cạnh tranh 2018, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia phải đưa ra một trong các quyết định sau: (1) Cho phép thực hiện vụ việc tập trung kinh tế, (2) Cho phép thực hiện vụ việc tập trung kinh tế kèm điều kiện (3) Không cho phép thực hiện vụ việc tập trung kinh tế

4. Hệ quả pháp của việc thẩm định tập trung kinh tế

Theo quy định tại Điều 43 Luật Cạnh tranh 2018 về thực hiện tập trung kinh tế thì trong suốt thời gian chờ quyết đnh của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia đối với các vụ việc tập trung kinh tế đạt tới ngưỡng thông báo, các chủ thể liên quan không được tiến hành bất cứ thủ tục tập trung kinh tế theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp quy định khác của pháp luật liên quan

Như vậy, trong trường hợp vviệc tập trung kinh tế chưa đến ngưỡng thông báo, thì hợp đồng M&A giao kết giữa các bên được phép thực hiện ngay. Cần lưu ý rằng việc xác định ngưỡng thông báo tập trung kinh tế này do các chủ thể liên quan tự xác định và thể việc xác định này không khách quan khi các bên có động che giấu vụ việc nhằm hưởng lợi. Do đó, tuy việc tập trung kinh tế thể được tiến hành xong nhưng theo thủ tục tố tụng cạnh tranh thì thời hiệu khiếu nại đối với hoạt động tập trung kinh tế 03 năm kể từ khi các bên dấu hiệu vi phạm pháp luật cạnh tranh

Trong trường hợp vụ việc tập trung kinh tế đến ngưỡng phải thông báo, tại thời điểm thực hiện thủ tục thông báo, các bên thể thực hiện giao kết hợp đồng M&A trước hoặc chưa thực hiện giao kết hợp đồng M&A. Do pháp luật cạnh tranh không quy định ràng về việc xác định thế nào thực hiện tập trung kinh tế, nên việc giao kết hợp đồng giữa các n không thể được xem là thực hiện tập trung kinh tế. Nếu xét theo bản chất pháp , đây chỉ việc các bên c lập quyền nghĩa vụ sẽ thực hiện trong tương lai; hành vi này hn toàn chưa thể tác động xâm hại tới i trường cạnh tranh khách thể pháp luật cạnh tranh bảo vệ

Bên cạnh đó, theo quy định tại Khoản 1 Điều 43 thì các doanh nghiệp phải thực hiện thông báo sau khi được phép thực hiện vụ việc tập trung kinh tế mới được phép: làm thủ tục tập trung kinh tế theo quy định của pháp luật về doanh nghip và quy định khác của pháp luật liên quan, như vậy chúng ta thấy rằng pháp luật cạnh tranh coi việc các chủ thể thực hiện các thủ tục hành chính nhằm mục đích thực hiện việc chuyển giao các tài sản phục vụ cho việc tập trung kinh tế hành vi thực hiện tập trung kinh tế. Theo các xây dựng quy phạm y của pháp luật cạnh tranh, thì hành vi thực tế sở để xác định xem các chủ thể đã tiến hành hoạt động tập trung kinh tế hay chưa

Do việc đã giao kết hoặc chưa giao kết hợp đồng M&A tùy nghi theo thỏa thun giữa các bên, nên tác động của pháp luật cạnh tranh đối với hợp đồng M&A trong trường hợp này như sau

Trong trường hợp hợp đồng M&A chưa được giao kết vụ việc tập trung kinh tế được phép thực hiện (vụ việc không phải thực hiện thẩm vấn chính thức hoặc quyết định cho phép thực hiện của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia) thì c bên tiến nh giao kết hợp đồng. Nếu vụ việc tập trung kinh tế được phép thực hiện điều kiện thì các bên cần đàm phán thay đổi nội dung hợp đồng cho phù hợp với yêu cu của Ủy ban Cạnh tranh quốc gia; nếu các điều kiện này làm mất lợi thế thương mại của vụ việc thì c bên có thể | hủy bỏ việc tập trung kinh tế

Trong trường hợp hợp đồng M&A đã giao kết thì việc thực hiện hợp đồng phải đợi đến thời điểm được phép thực hiện tập trung kinh tế (vụ việc không phải thực hiện thẩm vấn chính thức hoặc quyết định cho phép thực hiện của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia). Nếu vụ việc được phép thực hiện điều kiện thì các bên phải đàm phán điều chnh phương án tập trung kinh tế hợp đồng M&A cho phù hợp; nếu các điều kiện này mất lợi thế thương mại của vụ việc thì các bên thể hủy bỏ việc tập trung kinh tế giải quyết các vấn đề phát sinh theo hợp đồng đã giao kết. Nếu vụ việc không được phép thực hiện thì hợp đồng M&A bị hiệu với các nội dung liên quan tới việc tập trung kinh tế, các nội dung liên quan tới việc giải quyết các vấn đề phát sinh vẫn hiệu lực thi hành

Như vậy, chúng ta thấy rằng hoạt động kiểm soát tập trung kinh tế của Nhà nước tác động quyết định tới hiệu lực của Hợp đồng M&A và nội dung của hợp đồng M&A trong trường hợp tập trung kinh tế được phép thực hiện điều kiện. Tuy nhiên, Luật Cạnh tranh không điều chỉnh trực tiếp hợp đồng M&A gián tiếp tác động qua các quy định về: (i) trường hợp vụ việc tập trung kinh tế được phép thực hiện không phải thông o tại Khoản 1 Điều 33; (ii) các trường hợp được phép thực hiện khi phải thực | hiện thông báo tại Điều 43 (iii) các điều kiện để vụ việc tập trung kinh tế được phép thực hiện trong trường hợp tập trung kinh tế điều kiện tại Điều 42 Luật Cạnh tranh 2018

Trong trường hợp Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia cho phép thực hiện tập trung kinh tế điều kiện thì các điều kiện được phép áp dụng đề nghị các chủ thể liên quan thực hiện được quy định tại Điều 42, gồm: (1) Chia, tách, bán lại một phần vốn góp, tài sản của doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế; (2) Kiểm soát nội dung liên quan đến giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ hoặc các điều kiện giao dịch khác trong hợp đồng của doanh nghiệp hình thành sau tập trung kinh tế; (3) Biện pháp khác nhằm khắc phục khả năng tác động hạn chế cạnh tranh trên thị trường và (4) Biện pháp khác nhằm tăng cường tác đng tích cực của tập trung kinh tế. Như vậy, thể phân loại nhóm các điều kiện kèm theo hoạt động tập trung kinh tế như sau

Nhóm tác động tới phương án, quá trình tập trung kinh tế: trong nhóm này chỉ gồm biện pháp đầu tiên. Nếu Ủy ban Cạnh tranh quốc gia áp dụng điều kiện thuộc nhóm này, thì các bên tham gia sẽ phải thực hiện đúng các nội dung yêu cầu nếu muốn tiến hành vụ việc tập trung kinh tế

Nhóm tác động tới doanh nghiệp nh thành sau tập trung kinh tế: trong nhóm này gồm các biện pháp còn lại do nội dung điều chỉnh của các biện pháp này không tác động | tới quá trình thực hiện tập trung kinh tế áp đặt các điều kiện lên chủ thể hình thành sau tập trung kinh tế. Tại thời điểm pn quyết về điều kiện tập trung kinh tế được đưa ra, các bên thể lường trước hậu quả kinh tế của phán quyết để ra quyết định tiếp tục thực hiện vụ việc tập trung kinh tế hay không.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo