Tập trung kinh tế là gì? M&A là gì? Đối chiếu 2 khái niệm này

Khái niệm M&A, được viết tắt bởi hai từ tiếng Anh: Mergers and Acquasitions, tạm dịch là “sáp nhập và mua lại” hoặc “sáp nhập và thâu tóm”. Hai khái niệm M&A và Tập trung kinh tế được xem là hai khái niệm tương đương đồng nhất.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6586

Số điện thoại Luật sư: 058.7999997

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Khái niệm tập trung kinh tế: 

Hiện nhiều cách tiếp cận định nghĩa khác nhau về tập trung kinh tế, từ góc độ kinh tế học, hai cách tiếp cận như sau

Cách tiếp cận thứ nhất xem xét khái niệm tập trung kinh tế góc độ kinh tế học . Theo cách tiếp cận này, tập trung kinh tế được xem là mức độ tập trung bản, gồm các thành tố như doanh thu, tài sản hay việc làm trong ngành của các doanh nghiệp. Theo cách tiếp cận này, tập trung kinh tế được xem xét, nhìn nhận khái quát trên phương diện toàn bộ nền kinh tế, thị trường liên quan hay một chuỗi giá trị của một ngành công nghiệp cụ thể

Cách tiếp cận thứ hai nhìn nhận khái niệm tập trung kinh tế góc độ kinh tế học vi , theo đó tập trung xem xét các khía cạnh hành vi của doanh nghiệp nhằm tối ưu hóa chi phí gia tăng lợi ích trong hoạt động của mình. Theo cách tiếp cận này, hoạt động tập trung kinh tế được nghiên cứu bằng cách xem xét ch thức doanh nghiệp tái cấu trúc chi phí hoạt động của mình trong quá trình cạnh tranh bằng việc đổi mới quy trình sản xuất qua tập trung kinh tế. Việc đổi mới cấu trúc bên trong này của doanh nghiệp thể được tiến hành một cách tự nhiên thông qua quá trình tự phát triển nội tại hoặc sự phát triển của doanh nghiệp được bằng tăng trưởng ngoại sinh thông qua hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp. Nếu phân loại tập trung kinh tế theo mức độ ảnh hưởng tới cấu trúc chi phí của doanh nghiệp tác động của kết quả này tới thị trường thì tập trung kinh tế gồm: (1) tập trung kinh tế bên bán, sự tập trung kinh tế làm gia tăng thị phần của chủ thể sau tập trung kinh tế trên thị trường liên quan, từ đó gia tăng doanh thu (2) tập trung kinh tế bên mua, sự tập trung kinh tế làm tăng mức độ phụ thuộc các nhà cung cấp đối với doanh nghiệp hình thành sau tp trung kinh tế, từ đó giúp doanh nghiệp sau tập trung kinh tế giảm chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh

Từ hai cách tiếp cận theo góc độ kinh tế học nêu trên, tập trung kinh tế theo bản chất kinh tế của hoạt động này được chia thành ba dạng như sau

Tập trung kinh tế theo chiều ngang: Đây hình thức tập trung kinh tế dễ nhận biết thường thấy nhất trên thị trường, sự hình thành của dạng liên kết này xuất phát từ sự kết hợp các các doanh nghiệp đối thủ cạnh tranh trực tiếp với nhau trên cùng thị trường liên quan. Thông qua việc liên kết, các chủ thể sau liên kết trở thành chủ thể mới sức mạnh thị trường lớn hơn, tác động của việc tập trung kinh tế theo dạng này thường tác động lập tức trực tiếp tới thị trường liên quan. Liên kết này thể hiện bản chất theo định nghĩa về tập trung kinh tế do động thúc đẩy hoạt động liên kết y của các chủ thể là sgia tăng vị thế thị trường

Tập trung kinh tế theo chiều dọc: Đây hình thức tập trung kinh tế được thực hiện của giữa các chủ thể thuộc cùng mt chuỗi giá trị trong một ngành hoặc một lĩnh vực kinh doanh. Dạng liên kết này ít được để ý từ băn đầu do tác động của tới thị trường liên quan khó được nhận ra ngay. Liên kết này thể hiện bản chất vi mô của kinh tế học về tập trung kinh tế do động thúc đẩy hoạt động liên kết này của các chủ thể sự | tối ưu hóa quy trình sản xuất nhằm tiết kiệm chi phí, sử dụng hiệu quả nguồn lực kinh tế

Tập trung kinh tế bằng đa dạng hóa: Đây là hình thức tập trung kinh tế được thực hiện giữa các chủ thể không thuộc cùng thị trường hay cùng một chuỗi giá trị trong một ngành hoặc một lĩnh vực kinh doanh. Dạng liên kết này bản được thúc đẩy bởi động đầu tài chính nhằm tận dụng nguồn lực tài chính nhàn rỗi kinh nghiệm quản hay tận dụng hội thị trường khác. Dạng tập trung kinh tế này thường ít ảnh hưởng tới tính cạnh tranh của thị trường do các doanh nghiệp tham gia liên kết hoạt động gần như độc lập trên các thị trường liên quan khác nhau

Pháp luật các nước trên thế giới không định nghĩa khái niệm tp trung kinh tế chỉ đưa ra các dấu hiệu nh thức thực hiện tập trung kinh tế, cthể

Theo Bộ Luật Thương Mại Pháp sửa đổi bổ sung 2013, tại điều L4301 thì tập trung kinh tế được thhiện dưới dạng liệt các trường hợp

1. Khi một hoặc nhiều người đã nắm quyền kiểm soát ít nhất một doanh nghiệp hoặc khi một hoặc nhiều doanh nghiệp được quyền kiểm soát đi với toàn bộ hoặc một phẩm doanh nghiệp khác một cách trực tiếp hoặc gián tiếp bằng ch góp vốn mua cổ phần, giao kết hợp đồng hoặc một hình thức khác

2. Việc thành lập một doanh nghip chung thực hiện một cách ổn định mọi chức năng của một thực thể kinh tế độc lập cấu thành một trường hợp tập trung kinh tế theo quy định của điu y;

3. Quyền kiểm soát bao gồm các quyền, các hợp đồng hoặc hình thức khác, khả năng thực hiện một sự ảnh hưởng hoặc tác động đến hoạt động của một doanh nghiệp, chủ yếu

Các quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng đối với toàn bộ hoặc một phần tài sản của một doanh nghiệp

Các quyền, hợp đồng khả năng tạo ra tác động tương đối với tchc, việc thảo luận và ra quyết định của các quan trong một doanh nghiệp” 

Theo pp luật của Liên minh châu âu EC Merger Control 2004, một dự án tập trung kinh tế thực hiện khi đáp ứng hai tiêu chí sau:

1. Thực hiện những hoạt động sáp nhập, hợp nhất và các hình thức khác mà qua đó một hoặc nhiều doanh nghiệp làm thay đổi lâu dài cơ cấu quyền kiểm soát của toàn bộ hoặc một số phần của một hoặc nhiều doanh nghiệp khác.

2. Dự án đó có quy mô cộng đồng châu Âu được đánh giá trên cơ sở tiêu chí định lượng về doanh số.

Theo Luật chống hạn chế cạnh tranh Đức năm 1957, tập trung kinh tế được thực hiện thông qua các hình thức như mua lại toàn bộ hoặc một phần lớn tài sản của doanh nghiệp khác (mua cổ phần quyền bỏ phiếu của doanh nghiệp để chiếm 25% tới 50% cổ phần) đđược quyền kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bhoặc từng phần của một hoặc nhiều doanh nghiệp khác hoặc các hình thức liên kết khác giữa các doanh nghiệp để tạo tạo ra sự chi phối của một hoặc một số doanh nghiệp. Theo luật này, khi các doanh nghiệp liên kết ít nhất nửa số thành viên hội đồng quản trị, ban giám đốc trong các doanh nghiệp trùng nhau thì cũng được coi hình thức tập trung kinh tế 

Khác với pp luật của các quốc gia trên, đạo luật chống độc quyền của Hoa KClayton Anttrust Act 1914 sửa đổi bổ sung đạo luật chống độc quyền Sherman Antitrust Act 1890, tại Mục 7 quy định về kiểm soát mua bán sáp nhập theo chiều ngang (Horizontal Mergers Guudeness) nghiêm cấm bất kỳ giao dịch mua lại cổ phần hoặc tài sản trong các giao dịch ảnh hưởng đến thị trường khả năng dẫn tới hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể, hoặc xu hướng tạo ra độc quyền trên thị trường. Cụ thể, một vụ sáp nhập sẽ không được phép nếu tạo ra hoc tăng cường sức mạnh thị trường hoc tạo điều kiện cho việc tăng cường sức mạnh thị trường. Như vậy thể thấy, pháp luật của Hoa Kcũng không đưa ra định nghĩa tập trung kinh tế mà thông qua miêu tả các hành vi cụ thể như sáp nhập hoặc mua lại cổ phần tài sản, đồng thời với việc xem xét chủ yếu thông qua gây ra hoặc đe dọa gây ra hạn chế cạnh tranh hay không

Tương tự cách nhận biết hiện tượng tập trung kinh tế của pháp luật các quốc gia trên thế giới vừa nêu, pháp luật cạnh tranh Việt Nam cũng không đưa ra khái niệm khái quát về hành vi tập trung kinh tế theo c dấu hiệu bản chất chỉ liệt các hình thức tập trung kinh tế biểu hiện. Theo Điều 16 Luật cạnh tranh 2004 trước đây, thay thế bởi Điều 29 Luật cạnh tranh 2018 thì các nhà lập pháp của Việt Nam vẫn giữ nguyên cách thức tnh tập trung kinh tế theo dạng liệt kế hình thức thực hiện bao gồm

  • p nhập doanh nghiệp
  • Hợp nhất doanh nghiệp
  • Mua lại doanh nghiệp
  • Liên doanh giữa các doanh nghiệp
  • Các hành vi tập trung kinh tế khác theo quy định của pháp luật

Nvậy, cách tiếp cận của Việt Nam về hiện tượng tập trung kinh tế dựa trên các các hình thức biểu hiện cụ thể của về bản là tương tự với các nước nền kinh tế thị trường phát triển trên thế gới

2. M&A là gì? Làm rõ khái niệm M&A so với khái niệm Tập trung kinh tế: 

M&A, được viết tắt bởi hai từ tiếng Anh: Mergers and Acquasitions, tạm dịch sáp nhập mua lạihoặc sáp nhập thâu tóm. Đây là thuật ngữ để chỉ smua bán, sáp nhập, hợp nhất, mua cổ phần, mua tài sản giữa hai hay nhiều doanh nghiệp với nhau. Các giao dịch M&A hiện nay được các doanh nghiệp thực hiện để củng cố gia tăng vị thế cạnh tranh của mình một cách nhanh chóng trên thị trường. Mặc vậy, hiện nay chưa sự thống nhất một khái niệm pháp chung đối với thuật ngữ này

Trong luận về kinh tế chính trị của Karl Marx cũng đề cập tới khái niệm này như một hình thức của tập trung bản. Đây là quá trình tăng thêm quy của tư bản biệt sẵn có trong hội để hình thành một bản biệt khác lớn hơn, thông qua việc kết hợp các bản riêng lẻ lại với nhau. Do vậy, thể hiểu rằng, sáp nhập chính một hình thức của quá trình tập trung bản. mỗi một quốc gia hệ thống pháp luật khác nhau lại có một cách hiểu khác nhau về M&A

Khái niệm M&A theo trường phái pháp luật Hoa Kỳ 

Hoa Khợp chủng quốc do nhiều bang hợp thành Cấu trúc tổ chức bộ máy nhà nước của Hoa Kỳ không chỉ theo phân quyền theo chiều ngang dựa trên chế tam quyền phân lập còn phân cấp theo cchiều dọc. Bởi vậy, Hoa Kỳ tồn tại hai hệ thống pháp luật pháp luật liên bang pháp luật của từng bang. Do đó, hoạt động M&A cũng chịu sự điều chỉnh của hai hệ thống pháp luật này. Hệ thống pháp luật liên bang điều chỉnh hoạt động này dựa trên ba đạo luật chính : Đạo luật Sherman Antirust năm 1890, Đạo luật Clayton Antitrust năm 1914 Đạo luật HSR 1976. Ti Mục 7 Đạo luật Clayton 1914, các nhà lập pháp liên bang Hoa Kỳ xem sáp nhập sự kết hợp giữa hai doanh nghiệp mà một bên doanh nghiệp hoàn toàn bị thâu tóm bởi doanh nghiệp kia. Doanh nghiệp bị thâu tóm sẽ mất đi địa vị pháp của mình trở thành một phần của doanh nghiệp thâu tóm, doanh nghiệp thâu tóm vẫn giữ nguyên địa vị pháp của mình. Mọi quyền lợi, nghĩa vụ trách nhiệm của doanh nghiệp bị sáp nhập được chuyển giao hoàn toàn sang cho công ty sáp nhập. Có thể thấy, về mặt hình thức pp , hoạt động sáp nhập không giống với hoạt động hợp nhất (hai doanh nghiệp hợp nhất cùng bị mất đi địa vị pháp của mình tạo nên một doanh nghiệp địa vị pháp hoàn toàn mới

Khái niệm M&A theo trường phái pháp luật Châu Âu 

Tại Điều 3 Quy định về p nhập của Cộng đồng Châu Âu số 139/2004 ngày 20/01/2004, Cộng đồng Châu Âu kng sử dụng thuật ngữ M&A dùng thuật ngữ tập trungđể phản ánh khái niệm cùng bản chất với M&A như sau

  • Ssáp nhập giữa hai hoặc nhiều hơn hai pháp nhân độc lập trưc đó hoặc gia các bộ phận của các pháp nhân này, hoặc 
  • Thâu tóm quyền kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp đối với toàn bộ hoặc một phẩm doanh nghip khác thông qua việc mua lại chng khoán hoặc tài sản bằng hợp đồng hay bất cứphong hện nào khác.Một số khái niệm khác 

Quan điểm của các chuyên gia cũng như cách giải thích của một số từ đến trên thế giới về M&A cũng những quan niệm không hoàn toàn đồng nhất

Theo Từ điển Investope, sáp nhập (Mergers) xảy ra khi hai công ty (thường các công ty cùng quy mô) đồng ý tiến tới thành lập một công ty mới không duy trì sở hữu hoạt động của các công ty thành phần. Chứng khoán của các công ty thành phần sẽ bxbỏ công ty mới sẽ phát hành chứng khoán thay thế. Mua lại hay thâu tóm (Acquistions) hoạt động thông qua đó các công ty tìm kiếm lợi nhuận kinh tế nhờ quy , hiệu quả khả năng chiếm lĩnh thị trường. Khác với sáp nhập, các công ty thâu tóm sẽ mua công ty mục tiêu không sự thay đổi về chứng khoán hoc sự hợp nhất thành công ty

Theo Từ điển Oxford thì Mergers sự kết hợp của hai tchức, đặc biệt các công ty, doanh nghiệp thành một tổ chức; trong khi Acquitions việc một công ty bị mua lại bởi một chủ thể kc

Như vy, mặc nhiều ch hiểu chưa thống nhất về khái niệm M&A, sau khi nghiên cứu các quan đến trên thể rút ra một số điểm chung như sau

Mergers được hiểu là p nhập, hợp nhất doanh nghiệp, sự kết hợp của hai hoc nhiều công ty để tạo ra một công ty quy lớn hơn

  • Hợp nhất (hay còn gọi sáp nhập ngang bằng): Công ty sau hợp nhất một thực thể hoàn toàn mới, các công ty bị hợp nhất chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa thành một công ty mới (công ty hợp nhất), đồng thời chấm dứt sự tồn tại | địa vị pháp lý của các công ty bị hợp nhất.
  • Sáp nhập: Công ty nhận sáp nhập (thường là công ty có quy mô lớn hơn công ty | bị sáp nhập trước lúc sáp nhập), hoàn toàn không thay đổi về địa vị pháp lý nhưng lúc này đã trở nên có quy mô lớn hơn. Công ty bị sáp nhập chuyển toàn bộ tài sản quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại địa vị pháp lý của công ty bị sáp nhập.
  • Liên doanh: Bên cạnh Mergers, còn biểu hiện khác của tập trung nguồn lực | kinh tế thông qua hình thức liên doanh, hình thức này tuy không làm giảm slượng các doanh nghiệp có trên thị trường nhưng thông thường sẽ tạo ra một doanh nghiệp mới hội tụ nguồn lực kinh tế, thế mạnh của các bên tham gia và có thể gây tác động đến cạnh tranh trên thị trưởng. Bên cạnh đó, hình thức tập trung nguồn lực kinh tế này sẽ không tạo ra doanh nghiệp có quy mô lớn bằng so với hoạt động sáp nhập/hợp nhất (do các bên tham gia chỉ góp một phần nguồn lực kinh tế chứ không phải toàn bộ nguồn lực của họ như trong trường hợp hợp nhất hay sáp nhập).

Acquisitions: được hiểu là mua lại doanh nghiệp, việc một công ty mua toàn bộ hoặc một phần cổ phần của quyền biểu quyết của doanh nghiệp khác thông qua hợp đồng mua bán, hoán đổi cổ phiếu hay bất cứ hình thức nào khác đđkiểm soát, chi phối hoạt động của một công ty khác. Trên thực tế, thường thì công ty lớn hơn sthâu tóm công ty nhỏ hơn

M&A tạo ra doanh nghiệp quyền lực thị trường lớn hơn nhiều lần trước đó đồng thời làm giảm số lượng đi thủ cạnh tranh trên thị trường bằng việc tập trung nguồn lực kinh tế, dẫn tới làm thay đổi cấu trúc thị trưởng tương quan cạnh tranh của các doanh nghiệp độc lập trên thị trường

Nvậy, khái niệm M&A theo cách gọi của Hoa Kỳ hay tập trung kinh tế theo cách gọi ca Châu Âu pháp luật thực định Việt Nam thực chất chỉ một khái niệm được gọi theo hai cách khác nhau. M&A hay Tp trung kinh tế bản chất skết hợp và biến đổi của hai hay nhiều chủ thể kết quả của quá trình này tạo ra một hoặc nhiều chủ thể mới, trong đó một chủ thể quy sức mạnh kinh tế hơn hẳn các chủ thể trước đó. Do vậy, hai khái niệm M&A Tp trung kinh tế sẽ được sử dụng như hai khái niệm tương đương đồng nhất.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo