Thực trạng giải quyết tranh chấp hôn nhân gia đình ở Việt Nam

Luật hôn nhân gia đình ngày 19/06/2014 cũng đã bộc lộ một số bất cập và khó thực thi trong thực tế hiện nay. Một số bất cập trong quá trình giải quyết tranh chấp hôn nhân gia đình ở Việt Nam

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6586

Số điện thoại Luật sư: 058.7999997

Email: luatsu@luatduonggia.vn

Luật Hôn nhân gia đình được Quốc hội thông qua ngày 19/06/2014 hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015. Tuy nhiên cho đến nay, Luật hôn nhân gia đình cũng đã bộc lộ một số bất cập khó thực thi trong thực tế hiện nay. Một số bất cập trong quá trình giải quyết tranh chấp hôn nhân gia đình ở Việt Nam

1. Các quy định về nghĩa vụ của con cái:

Con bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo, phụng dưỡng cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình. Con nghĩa vụ quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật; trường hợp gia đình nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ. Nghiêm cấm ngược đãi, hành hạ, xúc phạm ông cha mẹ ... Căn cứ vào tính chất, mức độ khác nhau của hành vi con cái ngược đãi đối với cha mẹ người hành vi sẽ phải chịu mức xử phạt hành chính hoặc thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Người hành vi ngược đãi cha mẹ mình thì mức bị xử phạt hành chính thì mức phạt được cụ thể hóa trong Nghị định 167/2013/CP như sau

+ Phòng, chống bạo lực gia đình thì nếu đánh đập, gây thương tích cho bố mẹ những người khác trong gia đình thì sẽ bị xử phạt về hành vi xâm hại sức khỏe thành viên gia đình theo quy định tại Điều 49 của Nghị định số 167/2013/CP với mức phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng. + Sử dụng các công cụ, phương tiện hoặc các vật dụng khác gây thương tích, hành hạ, ngược đãi thành viên gia đình bị phạt tiền từ 1,5 triệu đến 2 triệu + Hành vi thường xuyên chửi bới, lăng mạ, chì chiết, xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình thì sẽ bị xử phạt hành chính về hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của thành viên gia đình theo quy định tại Điều 51 của Nghị định số 167/2013/CP với mức phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng. + Từ chối, trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, nuôi dưỡng cha mẹ thì bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100 nghìn đến 300 nghìn đồng.

Xử về mặt hình sự, người con bất hiếu thể phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội sau: + Tội hành hạ người khác (Điều 140 Bộ luật Hình sự 2015) với khung hình phạt cao nhất 3 năm + Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông , cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người công nuôi dưỡng mình (Điều 165 Bộ luật Hình sự 2015) với khung hình phạt cao nhất 05 năm giam + Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 186 Bộ luật Hình sự 2015) với khung hình phạt cao nhất 02 năm giam

Tuy nhiên, như chúng ta thấy số vụ việc con cái trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, ngược đãi, hành hạ ông cha mẹ vẫn đang ngày một tăng. Nguyên nhân đầu tiên dẫn tới tình trạng này không thể không kể đến đó những quy định xử vi phạm tác giả đã nêu trên chưa đủ sức răn đe. Tiếp đến, các trường hợp vi phạm thì nhiều nhưng các vụ việc được giải quyết trước pháp luật thì rất ít do những bậc làm cha làm mẹ thường sống cam chịu che dấu cho con cái

2. Nguyên tắc chung sống một vợ một chồng:

Những quy định xử vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng vẫn chưa đạt hiệu quả cao chưa đủ sức răn đe, do đó tình trạng vi phạm chế độ một vợ, một chồng diễn ra hết sức phức tạp ngày càng tăng

nước ta, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng là nguyên tắc hiến định dẫn trở thành nguyên tắc của cuộc sống gia đình, nền tảng để xây dựng một hội văn minh, phát triển bền vững. Tuy nhiên, trong thực tế tình trạng ngoại tình, nam nữ sống chung như vợ chồng ngày càng tăng lên đặc biệt tại các thành phố lớn. Việc giải quyết các trường hợp vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng trong thực tế nhiều vấn đề còn tồn tại. Cụ thể

+ Khoản 1 Điều 3 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: Chung sống như vợ chồng việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung coi nhau vợ chồng. Vấn đề trong thực tiễn hiểu xác định như thế nào về quy định coi nhau như vợ chồng. Thực tế rất nhiều trường hợp công khai chung sống bất hợp pháp nhưng không coi nhau như vợ chồng chỉ nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu sinh đắp về mặt tình cảm, hành vi của họ gây ra nghiêm trọng cũng sẽ không phạm tội Vi phạm chế độ một vợ, một chồngtheo quy định, thực trạng này dẫn đến nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm, quy định của pháp luật không được áp dụng thống nhất

+ Các trường hợp vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng rất nhiều, trong khi các vụ việc được giải quyết trước pháp luật rất ít, thông thường do hai bên tự thỏa thuận

+ Khó khăn khi xác định hành vi chung sống như vợ chồng: Khi người quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định hủy hôn trái pháp luật hoặc không công nhận quan hệ vợ chồng đối với một quan hệ nam nữ. Tòa án không ra quyết định ngay mà sẽ tiến hành điều tra xem quan hệ nam nữ đó có dấu hiệu vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng. Do tính chất của quan hệ vi phạm nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng quan hệ riêng , mang tính tình cảm, nhân nên các quan hệ này thường ít bộc lộ ra ngoài. Không những thế, các đương sự thường tâm muốn che đậy, giấu diếm họ ngại luận xã hội

+ Hiện nay tình trạng nam nữ chung sống với nhau không đăng kết hôn ngày càng diễn ra phổ biến đặc biệt các thành phố lớn. Xuất phát từ nhiều nguyên nhân trong đó một phần do hoàn cảnh hội. Thực tế cho thấy hiện nay quan hệ hôn nhân hợp pháp vẫn ngang nhiên quan hệ ngoài hôn nhân. thế, làm cho người còn lại trong mối quan hệ hôn nhân hợp pháp bị cảm thấy ngột ngạt, cuộc sống hôn nhân không còn chung mục đích, bị căng thẳng, đời sống vợ chồng không thể tiếp tục được, nên chính họ người không vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng phải yêu cầu ly hôn. Chính điều này đã giải thoát cho người vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm, thậm chí hợp pháp hóa mối quan hệ của mình

3. Căn cứ ly hôn: 

Vcăn cứ cho ly hôn Theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình 2014 quy định

Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu căn cứ về việc vợ, chồng hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được

Tuy nhiên, để xác định thế nào hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài chưa văn bản hướng dẫn, việc xác định mức độ hôn nhân trầm trọng vào ý chí chủ quan của người thẩm quyền đang giải quyết vụ việc, gây khó khăn cho việc xét xử vụ án

Trong Luật Hôn nhân gia đình hiện nay chưa những quy định cụ thể về trách nhiệm của quan nhà nước hay những người thẩm quyền trong việc bảo vệ quyền lợi của nhóm người yếu thế: người vợ, con, ông ... Phải chăng nên những quy định về trách nhiệm của nhân, quan thẩm quyền ràng hơn

4. Bất cập trong kỹ thuật xây dựng các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình:

Một đặc điểm khá phổ biến trong lập pháp của nước ta hiện nay các điều luật chỉ quy định mang tính nguyên tắc, không chế tài gắn liền với các quy định đó. Chế tài thường các quy định trách nhiệm chung chung, phải xem vận dụng một văn bản khác. dụ, quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng mức cấp dưỡng đối với người nghĩa vụ cấp dưỡng. Khoản 1 Điều 115 Luật hôn nhân gia đình quy định: “Khi ly hôn nếu bên khó khăn túng thiếu yêu cầu cấp dưỡng do chính đáng thì bên kia nghĩa vcấp dưỡng theo khả năng của mình”. Với quy định này rất khó xác định trong thực tế nhiều người dân sẽ tưởng rằng pháp luật chỉ mang tính chất răn đe chứ họ không biết chế tài đã được dẫn chiếu đến một văn bản pháp luật khác liên quan

Quan hệ hôn nhân gia đình nước ta hiện nay đang được điều chỉnh bằng rất nhiều các văn bản: Luật Hôn nhân gia đình Việt Nam năm 2014; Bộ Luật Dân sự năm 2015; Bộ Luật Hình sự năm 2015; Luật Nuôi con nuôi năm 2010; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007; Cùng với một số lượng lớn các văn bản hướng dẫn: Nghị quyết 01/2003/NQHĐTP Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình; Nghị quyết 02/2004/NQHĐTP Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình; Nghị định 08/2009/CP Hướng dẫn Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; Nghị định 19/2011/CP Hướng dẫn Luật Nuôi con nuôi; Nghị định 110/2013/CP Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ pháp, hành chính pháp, hôn nhân gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác ; Nghị định 167/2013/CP Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn hội; phòng, chống tệ nạn hội; phòng cháy chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình; Nghị định 126/2014/CP Hướng dẫn Luật Hôn nhân gia đình; Thông liên tịch 01/2016/TTLTTANDTC VKSNDTCBTP Hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân Gia đình ... . Khi đất nước ngày càng phát triển thì các quan hệ hội cũng ngày càng đa dạng phức tạp hơn. Do đó, đã đến lúc chúng ta phải suy nghĩ về việc quy định chi tiết tối đa các vấn đề ngay trong chính văn bản luật

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo