Quan hệ nhân thân và tài sản giữa vợ chồng thời phong kiến

Theo quan niệm của lễ giáo phong kiến, chồng được coi là người chủ gia đình, còn người vợ thì phải có đủ tứ đức: công (chăm chỉ, cần cù), dung (duyên dáng), ngôn (ăn nói dịu dàng), hạnh (nết na), đồng thời, phải tuân theo nguyên tắc tam tòng.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6586

Số điện thoại Luật sư: 058.7999997

Email: luatsu@luatduonggia.vn

Việc kết hôn hiệu lực sẽ căn cứ để phát sinh các quyền nghĩa vụ của vợ, chồng về mặt nhân thân tài sản

1. Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng:

Theo quan niệm của lễ giáo phong kiến thì chồng được coi người chủ gia đình (gia trưởng), còn người vợ thì phải đủ tứ đức: công chăm chỉ, cần ), dung (duyên dáng), ngôn (ăn nói dịu dàng), hạnh (nết na) tuân theo nguyên tắc tam tòng: tại gia tòng phụ (nhà theo cha); xuất giá tòng phu (lấy chồng theo chồng), phu tử tòng tử (chồng chết theo con). Điều này đã tạo nên tâm chung trong hội phong kiến về sự phụ thuộc của người phụ nữ vào gia đình, đặc biệt sự phụ thuộc vào người chồng. Tuy vậy, tục lệ Việt Nam vẫn dành cho người vợ một vị trí quan trọng trong gia đình, giữa vợ chồng những quyền nghĩa vụ đối với nhau. Điều này cũng được phản ánh trong pháp luật phong kiến thời , Nguyễn

* Nghĩa vụ cùng chung sống (đồng cư): 

Theo chế độ phụ hệ thì người vợ phải nhà chồng (xuất giá tòng phu). Theo tinh thần nội dung Điều 321 QTHL, người vợ phải nghĩa vụ về với chồng tại địa điểm do cha mẹ chồng người chồng lựa chọn, bất cứ do tự tiện bỏ nhà chồng ra đi sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc

Trái lại, pháp luật nhà Nguyễn đã quy định một số trường hợp như sau

Trường hợp chiêu tế dưỡng lão: khi cha mẹ nhà vợ không con trai, thường mời chàng rể gửi rể để trông nom tuổi già. Tuy nhiên, chàng rể không được chọn để lập tự. Khi cha mẹ vợ chết, người tộc trưởng bên nhà vợ phải chọn người thừa tự để phụng tự như luật định (Điều 94 HVLL)

Trường hợp nghĩa tế: trường hợp chàng rể nghèo được cha mẹ vợ nuôi, nếu chàng rể được cha mẹ vợ quý trọng thì người nào được lập tự không thể đuổi người nghĩa tế đi được người này cũng được hưởng một phần gia tài (Điều 76 HVLL

Trường hợp chàng rể làm việc tại nhà cha mẹ vợ để lấy công trừ vào những phí tổn trong việc cưới xin họ không lo liệu được

Tuy nhiên, Điều 94 HVLL cũng quy định: Nếu chỉ một con trai duy nhất thì không được gửi rể

Nếu cha mẹ chồng cho phép ăn riêng, thì chỗ của vợ chồng bao giờ cũng do chồng chọn. Điều 321 QTHL quy định người đàn tự ý bỏ nhà chồng ra đi thì phải chịu những hình phạt nghiêm khắc; bị xử tội đồ làm xuy thất (làm tỳ phục dịch nhà bếp). Nếu bỏ đi lấy chồng khác thì bị xử tội đồ làm thung thất tỳ (phục dịch nhà xay lúa, giã gạo). Điều 108 HVLL cũng quy định phạt 100 trượng người đàn bỏ trốn nhà chồng, nếu trốn đi sau đó cải giá thì bị phạt tội giảo giam hậu, người chồng quyền tùy ý gả hay bán Vợ cho người khác. Tuy nhiên điều luật này sao chép luật Mãn Thanh nên không được tục lệ Việt Nam tuân theo

Ngược lại, người chồng cũng phải nghĩa vụ này, tuy nới rộng hơn. Với cách người gia trưởng, người chủ trong gia đình, người chồng càng phải trách nhiệm với vợ con. Đây quy định đặc biệt không thể tìm thấy trong các văn bản cổ luật ngoài triều . Cụ thể, theo Điều 308 QTHL quy định: Chồng bỏ lửng vợ 5 tháng thì mất vợ. Nếu vợ đã con thì cho hạn một năm. luật quan phải đi xa thì không theo luật này... . Hoặc theo Điều 309, nếu người chồng quá say đắm nàng hầu mà thờ ơ với vợ nếu bị vợ thưa lên quan, thì bị xử tội biếm

Điều 108 Lệ 2 HVLL quy định: Nếu người chồng mất tích hoặc bỏ trốn 3 năm không về thì người vợ được trình quan xin phép cải giá nhà vợ không phải hoàn lại đồ sính lễ

Như vậy, thể thấy điểm tiến bộ cả hai bộ luật này đó đều quy định hình phạt nghiêm khắc đối với việc người chồng bỏ phí gia đình, không thực hiện nghĩa vụ giúp đỡ vợ nuôi con cái ngược lại vợ cũng nghĩa vụ giúp đỡ chồng. Nghĩa vụ đồng không chỉ thể hiện mối quan hệ nhân thân giữa vợ chồng nó còn một biện pháp để đạt được đến các mục đích của hôn nhân. Hôn nhân dưới thời thời Nguyễn nhằm mục đích chính sinh con để nối dõi tông đường thờ phụng tổ tiên; Hôn nhân còn các mục đích thiêng liêng khác như sự chia sẻ, hỗ trợ lẫn nhau đòi hỏi vợ chồng phải cùng nhau chung sống mới thể đạt được các mục đích đó. Hay nói cách khác nghĩa vụ đồng chỉ ý nghĩa khi được cả hai vợ chồng cùng thực hiện

* Nghĩa vụ tòng phu (nghĩa vụ tuân thủ, phục tùng chồng): Nghĩa vụ này được đặt ra đối với người vợ. Chữ Tòng phu trong câu Xuất giá tòng phu hiểu một cách đơn giản nhất theo chồng. Theo quan niệm của Nho giáo, người phụ nữ một khi đã chồng thì mọi sự phải theo chồng, phục tùng chồng gia đình chồng. Trong QTHL HVLL không có điều khoản nào quy định cụ thể về nghĩa vụ này nhưng qua tinh thần của các điều luật đã thể hiện nghĩa vụ người vợ phải theo chồng, vâng lời chồng tôn trọng mọi quyết định của chồng. Sự phục tùng không cho phép người vợ đánh chồng, tố cáo chồng, nghĩa vụ để tang chồng các thành viên trong gia đình nhà chồng. Nghĩa vụ này được thể hiện qua ba phương diện sau

Người vợ không được phép đánh chồng hoặc đánh mắng họ hàng nhà chồng 

Phục tùng chồng người vợ phải tôn trọng chồng đối xử hiếu thuận, không hành vi xúc phạm đến những bậc bề trên cũng như anh em, họ hàng nhà chồng. thế chỉ cần đánh chồng chưa thương tích cũng bị xử phạt rất nặng

Điều 481 QTHL quy định

Vợ đánh chồng thì xử đi châu ngoài, đánh bị thương, què gãy thì lưu đi châu xa, điền sản phải trả lại cho chồng (chồng cáo quan mới bắt tội). Vợ lẽ phạm tội trên thì xử nặng hơn một bậc. Đánh chết thì phải tội giảo

Hành vi đánh chửi bậc tôn trưởng nhà chồng cũng bị xử phạt rất nặng. Điều 483 quy định

Vợ đánh chửi những bậc tôn trường nhà chồng từ hành thân trở xuống, ty ma trở lên, thì xử nhẹ hơn tội đánh chồng một bậc (tội nhẹ thì nặng hơn tội đánh người thường một bậc). Vợ lẽ phạm tội trên thì không được giảm ... Đánh chết con cháu của anh em chồng thì phải lưu đi châu ngoài, cố ý giết thì xử tội giảo

Tuy nhiên, trong trường hợp người chồng đánh vợ bị thương thì hình phạt đối với người chồng sẽ nhẹ hơn đánh người ngoài ba bậc, tiền đền mạng được bớt ba phần. Cố ý giết vợ thì được giảm tội một bậc, nếu tội chồng đánh không may bị chết thì sẽ xử khác, ngộ sát thì không phải tội. Đánh chết vợ bất mục nhưng với hành vi đó của người chồng bị xử nhẹ hơn hẳn so với hành vi của người vợ. theo đạo đức Nho giáo, người chồng quyền dạy bảo người vợ trong vai trò người gia trưởng, ngược lại người vợ phải vâng lời chồng, không được phép chống đối lại chồng

HVLL cũng quy định trường hợp vợ đánh chồng chưa thương tích vẫn bị phạt 100 trượng, đánh bị thương trở lên đều xử nặng hơn tội Đánh gây thương tích người thường 3 mức. Nếu thiếp đánh chồng thì đều bị xử phạt nặng hơn vợ một mức (Chồng tố cáo mới bắt tội) (Quy định tại Điều 284 HVLL). Hành vi đánh ông , cha mẹ chồng thì đều xử trảm, nếu giết chết thì đều xử lăng trì (Điều 288 HVLL). Hành vi đánh các thành viên khác thì tội nhẹ hơn đánh chồng ông cha mẹ chồng nhưng các chế tài thì vẫn nghiêm khắc (Điều 289 HVLL). HVLL còn quy định người vợ không được phép mắng chồng (chỉ đặt ra đối với người vợ lẽ), ông , cha mẹ hay thân thuộc khác của chồng. Các hành vi này đều bị xử rất nghiêm khắc. Ngược lại, Điều 284 HVLL cũng quy định trường hợp người chồng đánh vợ bị thương thì người vợ không được tự ý dứt bỏ chồng phải thẩm vấn hai vợ chồng xem thuận tình ly dị mới cho ly dị. Bên cạnh đó, Điều 288 HVLL cũng không cho phép gia đình chồng quyền xâm phạm đến thân thể của người vợ. Ông , cha mẹ những bậc bề trên quyền dạy bảo khi con dâu trong nhà không phải phép, nhưng lạm dụng quá mức quyền này thì sẽ bị trừng phạt. Quy định này đã phần nào bảo vệ quyền lợi của người vợ trong gia đình phong kiến đây cũng điểm mới hơn so với QTHL

Người vợ không được tố cáo chồng gia đình chồng (Điều 504 QTHL Điều 306 HVLL

Nghĩa vụ tòng phu đặt ra cho người vợ bổn phận hết lòng chồng gia đình chồng. Hành vi tố cáo chồng gia đình chồng đã làm mất đi ơn nghĩa sâu nặng trong gia đình. Nhất khi Nho giáo trở thành hệ tưởng thống trị trong hội thì điều đó trái với luân , không thể chấp nhận bởi với cách người chủ trong gia đình, người chồng bị tố cáo sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến danh dự, uy tín, quyền lợi của gia đình về mọi phương diện

Điều 504 QTHL minh thị

Hành vi tố chồng của người vợ phạm tội bất mục một trong mười tội ác, bị xử tội lưu đi châu sa. Tố cáo ông ngoại, cha mẹ ông cha mẹ về bậc tôn trưởng vào hàng thân của chồng dẫu việc thật cũng phải tội biếm hay tội đồ; Nếu tội mưu phản, đại nghịch hay mẹ đích, mẹ kế giết cha, cha mẹ nuôi giết con đẻ, thì cho phép tố cáo. Nếu vu cáo thì xử theo tội đã vu tăng lên một bậc

Điều 306 HVLL cũng quy định

Phàm con cháu tố cáo ông , cha mẹ, thể thiếp tố cáo chồng hoặc tố cáo ông , cha mẹ chồng (tuy đúng thực cũng) xử phạt 100 trượng, đồ 3 năm. Nếu như vu cáo thì xử giảo

Đối với các thành viên khác người vợ cũng không được tố cáo tuy tội nhẹ hơn nhưng điều đó cũng làm mất đi tình nghĩa tôn quý của gia đình

Người vợ nghĩa vụ để tang chồng thành viên trong gia đình chồng

Nghĩa vụ tòng phu phát sinh từ khi người con gái bước chân vào nhà chồng làm dâu cho đến khi chồng chết đi nghĩa vụ này vẫn chưa chấm dứt. Khi chồng chết, người vợ phải nghĩa vụ để tang chồng trong 3 năm phải tuân thủ những quy định nghiêm ngặt. Theo Khoản 9 Điều 2 QTHL HVLL đều quy định, nếu người vợ vi phạm nghĩa vụ này sẽ bị khép vào tội bất nghĩa chế tài đặt ra tại Điều 317 QTHL: Người nào đang tang cha mẹ hoặc tang chồng lại lấy chồng hoặc cưới vợ thì xử tội đồ, QTHL không quy định nghĩa vụ chồng để tang vợ. Hoàng Việt lệ cũng quy định: Phàm (trai, gái) tang cha, mẹ (vợ, thiếp tang chồng tự bản thân (chủ không lo việc cưới gả, thì bị xử phạt 100 trượng

Tuy nhiên HVLL quy định người chồng phải để tang vợ trong thời gian 1 năm để tang cha mẹ vợ 3 tháng. Tuy không đặt ra những quy định nghiêm ngặt như đối với người vợ trong thời gian này, nhưng đã thể hiện được mối quan hệ qua lại trong mối quan hệ vợ chồng QTHL không đề cập đến

Sự phục tùng chồng buộc người vợ phải thực hiện đầy đủ, trọn vẹn các nghĩa vụ đối với thành viên trong gia đình chồng như chính chồng. Người vợ phải tôn trọng, đối xử hiếu, nghĩa vụ với những bậc bề trên của chồng cũng như anh em, họ hàng nhà chồng, con riêng của chồng... không được những hành vi xúc phạm. Tất cả đều nhằm mục đích xác lập trật tự giữ gìn sự hòa thuận trong gia đình. Sự hòa thuận đó phụ thuộc rất nhiều vào cách xử của người vợ, do đó pháp luật rất nhiều quy định cụ thể, chặt chẽ điều chỉnh xử của người vợ

* Nghĩa vụ chung thủy 

Mục đích chính của hôn nhân trong gia đình phong kiến để nối dõi tông đường nên chế độ đa thể được pháp luật thời thời Nguyễn thừa nhận bảo vệ. Điều đó đã dẫn đến một hệ quả nghĩa vụ chung thủy được đặt ra đối với người vợ không đòi hỏi người chồng phải thực hiện. hội phong kiến cho phép người chồng quyền lấy nhiều vợ (chế độ đa thê), người chồng không những quyền lấy thêm một hoặc nhiều vợ lẽ còn được phép lấy thêm nàng hầu. Ngược lại, Người đàn vợ cả, vợ lẽ hay nàng hầu nếu không chung thủy với chồng đều bị pháp luật trừng trị nghiêm ngặt

Người vợ phải tuyệt đối chung thủy với chồng, nếu vi phạm nghĩa vụ này thì không những bị coi một trong bảy duyên cớ (thất xuất) để người chồng bắt buộc phải ly hôn, mà còn phải chịu hình phạt nghiêm khắc. Theo khoản cuối Điều 401 QTHL quy định vợ cả hay vợ lẽ thông gian đều bị phạt tội lưu, điền sản của họ phải chuyển sang cho người chồng. Điều 332 HVLL quy định: Phạm hòa gian bị phạt 80 trượng, chồng phạt 90 trượng, điều gian (hay không chồng phạt 100 trượng. Ngoài ra người chồng còn quyền gả bán vợ cho người khác trừ người đã thông gian cùng vợ mình. Sự thủy chung của người vợ nhằm đảm bảo con sinh ra mang huyết thống của người chồng, không làm ảnh hưởng đến vấn đề nối dõi tông đường

Như vậy, quy định nghĩa vụ thủy chung của người vợ, nhà làm luật đã thể hiện quan điểm bảo vệ sự ổn định, trật tự trong gia đình, giữ gìn sự hòa thuận trong gia đình một mức độ nhất định

2. Về chế độ tài sản của vợ chồng: 

Theo pháp luật phong kiến Việt Nam, tài sản trong gia đình bao gồm cả động sản và bất động sản, nhưng trong đó điền sản được coi tài sản chủ yếu, vật thiêng liêng, sở để hiểu mối quan hệ qua lại giữa các thành viên trong gia đình, vị trí của họ trong các mối quan hệ thân tộc rộng hơn mối quan hệ về họ hàng thân thích

Qua nghiên cứu trong QTHL HVLL thể kết luận rằng tài sản gia đình trong xã hội phong kiến Việt Nam gồm 3 loại:

1. Tài sản của người chồng được thừa kế từ gia đình chồng (phú điền sản);

2. Tài sản của người vợ được thừa kế từ gia đình vợ (thể điền sản);

3. Tài sản chung do hai vợ chồng cùng kiếm được trong thời kỳ hôn nhân (tần tảo điền sản).

Mặc QTHL không trực tiếp đề cập đến việc quản tài sản trong gia đình, những quy định tại các Điều 374, 375, 376 QTHL đã gián tiếp thừa nhận năng lực bình đẳng của vợ chồng trong việc quản tài sản gia đình. Với cách người chủ gia đình, người chồng quyền quản sử dụng tài sản của gia đình nhưng phải xuất phát từ lợi ích gia đình, nếu làm tổn hại đến tài sản gia đình thì người vợ quyền phản đối. Tuy nhiên, sự bất bình đẳng trong quan hệ tài sản của vợ chồng theo quy định của QTHL thể hiện chỗ trong trường hợp người chồng chết trước, nếu người vợ lấy chồng khác thì người vợ mất quyền hưởng hoa lợi từ tài sản của người chồng đã chết, nhưng ngược lại, nếu người vợ chết trước thì mặc người chồng lấy vợ khác, nhưng vẫn được hưởng hoa lợi từ tài sản của người vợ đã chết. Sở sự khác nhau này do phong tục chi phối, khi đi lấy chồng người con gái về nhà người chồng trở thành một thành viên trong gia đình nhà chồng. Khi chồng chết, người vợ lại đi lấy chồng khác thì bị coi ra khỏi nhà chồng, không còn thành viên trong gia đình chồng nữa nên không quyền hưởng các quyền lợi đối với tài sản của chồng

Trong HVLL chưa có các quy định về tài sản riêng của vợ chồng, người vợ vẫn phải phụ thuộc vào người chồng và gia đình nhà chồng. Tuy nhiên, trong trường chồng chết, nếu vợ quan chức thì được hưởng một phần lương bổng của chồng

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Vũ Văn Hưởng

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo